- Tranh chấp gì? án hình sự — "TTT - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo TTT. Sửa một phần bản án sơ thẩm về phần quyết định về hình phạt đối với bị cáo TTT của Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2020/HS-ST ngày 10 tháng 6 năm 2020 của tòa án nhân dân huyện CLD, tỉnh Sóc Trăng
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2020/HS-PT Ngày 11-8-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Thúy Nga
Các Thẩm phán:
Bà Tôn Thị Thanh Thúy
Ông Nguyễn Thành Hữu
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Sơn-Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sáu-Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 42/2020/TLPT-HS ngày 16 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo TTT do có kháng cáo của bị cáo TTT đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2020/HS-ST ngày 10 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện CLD, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị cáo có kháng cáo: TTT; Sinh năm: 1993; Nơi sinh: Huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn H (sống) và bà Đổ Thị T (sống); Anh chị em ruột có 02 người, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất là bị cáo; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/01/2020 cho đến nay (có mặt)
- Những người dưới đây không liên quan đến kháng cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập gồm: Bị hại ông LVB; Người làm chứng gồm các ông (bà) NLC1, NLC2, NLC3 và NLC4.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ ngày 10/8/2019 TTT điều khiển xe mô tô đến nhà ông NLC1 thuộc ấp Đ, xã AD, huyện CLD, tỉnh Sóc Trăng. Khi đến nhà ông NLC1, TTT dừng xe trước cửa nhà, khi thấy ông NLC1 đang uống rượu với ông NLC3 và ông LVB, TTT đi vào nhà ông NLC1 và cùng uống rượu với ông NLC1, ông Hùng và ông LVB. Sau khi uống được vài ly rượu thì TTT nói với ông LVB “ông ở gần nhà cậu hai tôi mà đường đi sao ông khó khăn quá” (cậu hai TTT là ĐVM) thì ông LVB nói “tao với cậu hai mầy là người lớn thì biết, còn mầy nhỏ biết gì mà nói”, nghe ông LVB nói vậy lập tức TTT cầm một cái chén (chén bằng sành, loại dùng để sinh hoạt hàng ngày) đang để tại chỗ nhậu đánh một cái vào đầu ông LVB làm vỡ cái chén thành nhiều mãnh trúng cẳng tay trái gây thương tích vùng đỉnh đầu và cẳng tay trái của ông LVB, ngay sau đó TTT tiếp tục cầm thêm cái chén đánh vào chân trái của ông LVB gây thương tích rồi TTT bỏ đi. Sau khi bị TTT gây thương tích ông LVB được người nhà đưa đi điều trị tại Trung tâm y tế huyện CLD từ ngày 11/8/2019 đến ngày 19/8/2019 thì xuất viện.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 209/TgT-PY, ngày 12 tháng 9 năm 2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh Sóc Trăng: Tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của LVB hiện tại là: 06% (sáu phần trăm); tổn thương vùng đầu là vùng nguy hiểm đến tính mạng
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2020/HS-ST, ngày 10 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện CLD, tỉnh Sóc Trăng quyết định:
Tuyên bố bị cáo TTT phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo TTT 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo của bị cáo và người tham gia tố tụng khác.
* Ngày 22/6/2020, bị cáo TTT kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo TTT giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo xin hưởng án treo
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo của bị cáo TTT, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng chuyển bị cáo từ tù giam sang tù treo do tại phiên tòa phát sinh tình tiết mới bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền bồi thường thiệt hại như bản án sơ thẩm tuyên số tiền 16.405.000đ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, thể hiện bị cáo ăn năn hối cải.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét Đơn kháng cáo của bị cáo TTT lập ngày 22/6/2020 và nộp cho Tòa án nhân dân huyện CLD, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 23/6/2020 là đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định của các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo TTT theo trình tự phúc thẩm
Về hành vi phạm tội của bị cáo TTT như sau: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo TTT khai nhận vào lúc hơn 18 giờ ngày 10/8/2019 tại nhà của ông NLC1 thuộc ấp Đặng Trung Tiến, xã AD, huyện CLD, tỉnh Sóc Trăng bị cáo TTT trong lúc say rượu bị cáo và ông LVB nói chuyện qua lại thì bị cáo đã dùng chén ném vào ông LVB gây thương tích vùng đỉnh đầu, cẳng tay trái và chân trái của ông LVB, theo kết luận giám định là 06%. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận bị cáo TTT phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo: Cấp sơ thẩm căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, xử phạt bị cáo 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích là có căn cứ. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cung cấp chứng cứ mới là hoàn cảnh bị cáo khó khăn phải đi làm thuê kiếm sống, nhưng bị cáo đã cố gắng kiếm tiền và đã bồi thường xong toàn bộ trách nhiệm dân sự với số tiền 16.405.000đ, điều này cũng thể hiện bị cáo đã thật sự ăn năn hối cải, các tình tiết mới nêu trên thuộc tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017). Ngoài ra, bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có các tình tiết giảm nhẹ đã được cấp sơ thẩm áp dụng: bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự được quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017). Xét điều kiện để hưởng án treo của bị cáo TTT thì thấy, bị cáo bị xử phạt tù không quá 03 năm, bị cáo có nhân thân tốt, có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Theo quy định của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát áp dụng Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Bản án sơ thẩm buộc bị cáo bồi thường thiệt hại cho bị hại LVB tổng số tiền 16.405.000đ. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10/8/2020 bị cáo đã nộp số tiền 16.405.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện CLD theo biên lai thu tiền số 009200 ngày 10/8/2020. Do vậy cần tiếp tục quản lý số tiền trên để đảm LVB thi hành án.
Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo TTT không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo TTT. Sửa một phần bản án sơ thẩm về phần quyết định về hình phạt đối với bị cáo TTT của Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2020/HS-ST ngày 10 tháng 6 năm 2020 của tòa án nhân dân huyện CLD, tỉnh Sóc Trăng
2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo TTT 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thử thách tính kể từ ngày 11 tháng 8 năm 2020.
Trong thời gian thử thách, giao bị cáo TTT cho Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng để giám sát, giáo dục.Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu bị cáo TTT cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 590 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo TTT bồi thường thiệt hại cho bị hại LVB tổng số tiền 16.405.000đ (mười sáu triệu bốn trăm lẻ năm ngàn đồng).
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày ông LVB có đơn yêu cầu thi hành án mà bị cáo TTT không thực hiện việc trả tiền thì bị cáo TTT còn phải trả lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền chậm thi hành án.
Tiếp tục quản lý số tiền 16.405.000đ (mười sáu triệu bốn trăm lẻ năm ngàn đồng) mà bị cáo TTT (do bà Đỗ Thị Thủy nộp thay) đã nộp bồi thường theo phiếu thu số: 009200 ngày 10/8/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện CLD, tỉnh Sóc Trăng để đảm LVB thi hành án.
4. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo TTT không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các phần khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Sóc Trăng (01) - TAND huyện CLD (02); - VKSND huyện CLD (01); - CQĐT - Công an huyện CLD (02); - CQTHAHS-Công an huyện CLD (01) - Chi cục THADS huyện CLD (01); - Bị cáo, bị hại (03). - PKTNV-THA-TAND tỉnh Sóc Trăng (01); - CQTHAHS- Công an tỉnh Sóc Trăng (01); - PHSNV-Công an tỉnh Sóc Trăng (01); - Sở Tư pháp (01); - Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (01) - Lưu hs, THS (04); | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Tăng Thị Thúy Nga |