vanban.org

Bản án 59/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Cẩm L.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trương Thị Cẩm L được ly hôn với anh Trần Văn C. Về con chung: Giao cháu Trần Xuân M, sinh ngày 07/6/2017 cho chị Trương Thị Cẩm L được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trần Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị Cẩm L - Trần Văn C"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Cẩm L.
  • Căn cứ chính? Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2020/HNGĐ-ST
Ngày 16 – 3 - 2020
V/v ly hôn, con chung

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Hà

Ông Châu Trung Trực

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Mai là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Ngày 16 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 34/2020/TLST - HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2020 về việc ly hôn, con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Cẩm L, sinh năm 1996; cư trú tại: Ấp ST, xã SK, huyện HĐ, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

- Bị đơn: Anh Trần Văn C, sinh năm 1988; cư trú tại: Ấp BB, xã QPB, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Trương Thị Cẩm L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Trước đây, chị và anh Trần Văn C qua thời gian tìm hiểu và được cha mẹ hai bên đồng ý tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã SK, huyện HĐ, tỉnh Kiên Giang ngày 07/4/2017. Sau đám cưới, vợ chồng chị sinh sống tại huyện Củ Tri, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, nhưng khoảng 18 tháng trở lại đây thì vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên cải nhau nên đã ly thân. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh C.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 người con tên Trần Xuân M, sinh ngày 07/6/2017 hiện cháu đang sống chung với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh C cấp dưỡng.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về các vấn đề khác: Vợ chồng không có nợ người khác và không có người khác nợ lại vợ chồng.

Đối với anh Trần Văn C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng anh không có ý kiến đối với nội dung, yêu cầu khởi kiện của chị L.

Tại phiên tòa: Chị L giữ nguyên yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Trương Thị Cẩm L khởi kiện yêu cầu giải quyết về quan hệ hôn nhân, con chung với anh Trần Văn C là vụ kiện tranh chấp ly hôn, do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Anh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không phải vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh C.

[3] Xét về quan hệ hôn nhân, Hội đồng xét xử thấy rằng: Vào năm 2017, chị L và anh C kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Như vậy, mối quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh C được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét về nguyên nhân mâu thuẫn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo chị L xác định nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Tuy nhiên, anh C không có ý kiến đối với nguyên nhân mâu thuẫn do chị L trình bày. Như vậy, những nguyên nhân mâu thuẫn do chị L xác định thuộc trường hợp những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Từ đó, Hội đồng xét xử khẳng định anh C không thật sự còn quan tâm hay tha thiết gì đến mối quan hệ hôn nhân với chị L, không có thiện chí phối hợp với Tòa án để giải quyết vụ án.

Mặt khác, tại phiên tòa chị L xác định trong thời gian ly thân vợ chồng không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm. Hiện nay chị không còn tình cảm đối với anh C, do đó chị không thể tiếp tục cuộc sống vợ chồng với anh C.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử khẳng định mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng giữa chị L và anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L về quan hệ hôn nhân.

Xét về con chung, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tính đến ngày xét xử cháu M chưa tròn 36 tháng tuổi, hiện đang sống chung với chị L có điều kiện phát triển bình thường về thể chất, tinh thần. Khi ly hôn, chị L yêu cầu được nuôi con, nhưng anh C không có ý kiến. Tại phiên tòa, chị L xác định hiện nay chị có thu nhập đảm bảo điều kiện nuôi dạy cháu M. Xét thấy: Yêu cầu nuôi con của chị L là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, để tránh thay đổi về mối trường sống, cũng như sự phát triển bình thường của cháu M nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L về con chung.

Xét về tài sản chung và các vấn đề khác: Chị L xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn anh C thì không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Xét về án phí dân sự: Chị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 5; Điều 91; khoản 2 Điều 92; Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; khoản 1, khoản 3 Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Cẩm L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trương Thị Cẩm L được ly hôn với anh Trần Văn C.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Xuân M, sinh ngày 07/6/2017 cho chị Trương Thị Cẩm L được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trần Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

3. Về án phí dân sự: Chị Trương Thị Cẩm L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0010286 ngày 04 tháng 02 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; chị Trương Thị Cẩm L đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ