- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thanh Ng.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2020/HNGĐ-ST Ngày: 21/7/2020 V/v “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
- Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:"
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Đến
Bà Nguyễn Thị Thúy Liễu
- Thư ký phiên tòa: Bà Kiên Thị Minh Hiếu là thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Trường, kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 323/2020/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2020 về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2020/QĐXX-ST ngày 22 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2020/QĐST-HNGĐ ngày 15/7/2020 giữa:
-"Nguyên"đơn: Chị Lâm Thanh Ng, sinh năm 1996 (có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ: Số 385 Khóm A, phường B, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
-"Bị"đơn: Anh Lữ H, sinh năm 1991 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp Ô Ch A, xã Lương H, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn chị Lâm Thanh Ng có ý kiến: Trước khi tiến tới hôn nhân, chị và anh Lữ H đã tìm hiểu nhau được 01 năm và anh chị tự nguyện tiến đến hôn nhân. Chị và anh Lữ H tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND phường 5, thành phố Trà Vinh vào năm 2012. Sau khi cưới, vợ chồng chị sống chung với nhà anh H tại ấp Ô Ch A, xã Lương H, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Trong thời gian đầu vợ chồng chị sống với nhau rất hạnh phúc, nhưng được khoảng 7 – 8 tháng thì vợ chồng chị cự cãi nhau, nguyên nhân do anh H chỉ lo ăn chơi không chí thú làm ăn, chị có khuyên anh H nhưng không được, nên lúc đó chị về nhà mẹ ruột sinh sống được khoảng 2 tháng thì anh H qua năm nỉ tôi về sống chung với anh H, anh H hứa với chị là anh H sẽ sửa đổi tính tình nên vợ chồng chị đoàn tụ. Nhưng sau thời gian đó giữa vợ chồng chị lại thường xuyên mâu thuẫn do anh H không sửa đổi tính tình vẫn tính nào tật đó nên vợ chồng chị luôn bất đồng ý kiến với nhau. Từ đó chị về nhà mẹ tôi ở khóm 2, phường 7, thành phố Trà Vinh cho đến nay. Tính đến nay vợ chồng chị sống ly thân đã hơn 03 năm. Trong thời gian ly thân, chị tự xét thấy tình cảm vợ chồng không thể nào hàn gắn được, nếu tiếp tục sống chung cũng không hạnh phúc. Nên chị Lâm Thanh Ng yêu cầu Tòa án cho chị được ly hôn với anh Lữ H.
Về con chung: Vợ chồng chị có một người con tên Lữ Anh Th, sinh ngày 23/12/2014 hiện đang sống chung với chị, sau khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh Lữ H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu giải quyết.
Anh Lữu Hậu đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và Hòa giải, Tòa án đã triệu tập hợp lệ hai lần đến tham gia phiên tòa nhưng anh H vẫn không đến theo triệu tập của Tòa án, cũng không gửi văn bản nêu ý kiến của bản thân đối với yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thanh Ng. Do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Lữ H.
* Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đối với việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử.
- Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa hôm nay đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đối với đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý đến thời điểm này nguyên đơn đã thực hiện theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự, đối với bị đơn anh Lữ H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến theo triệu tập của Tòa án cũng không gửi văn bản nêu rõ ý kiến là vi phạm Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đối với việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thanh Ng được ly hôn anh Lữ H.
Về con chung: Tiếp tục giao cháu Lữ Anh Th, sinh ngày 23/12/2014 cho chị Lâm Thanh Ng nuôi dưỡng. Chị Nguyên không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản, nợ chung chị Lâm Thanh Ng khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
Về án phí đề nghị Hội đồng xét xử buộc Lâm Thanh Ng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Nguyên đơn chị Lâm Thanh Ng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn anh Lữ H, trú tại ấp Ô Ch A, xã Lương H, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, về con chung có 01 người, chị Nguyên yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chị Nguyên không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi, về tài sản, nợ chung chị Lâm Thanh Ng khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự đây là “tranh chấp về ly hôn, nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lâm Thanh Ng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, anh Lữu Hậu Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ hai lần nhưng anh H vẫn không có mặt tham dự phiên tòa theo Giấy triệu tập của Tòa án. Nên Tòa án xét xử vắng mặt họ theo quy định tại 207, 208, 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị Lâm Thanh Ng và anh Lữ H sau khi được sự đồng ý của cha mẹ hai bên, anh chị đã tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 5, thành phố Trà Vinh vào năm 2012, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân chị Nguyên và anh H sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H không lo chí thú làm ăn, nên vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, dẫn đến phải ly thân đến nay đã 03 năm. Qua xác minh chính quyền địa phương cho biết tại phương từ trước đến nay không thấy vợ của anh H sinh sống tại địa phương và có nghe anh H nói là vợ chồng đã ly hôn, còn việc vợ chồng có mâu thuẩn gì hay không thì chính quyền địa phương không biết, nay chính quyền ấp không có ý kiến gì về mối quan hệ hôn nhân của anh H, tùy theo quyết định của Tòa án, trường hợp Tòa án xét xử cho chị Nguyên và anh H ly hôn thì về con chung ai đang nuôi dưỡng thì nên giao cho người đó nuôi dưỡng sẽ tốt cho cháu hơn.
Hội đồng xét xử xét thấy vợ chồng anh H, chị Nguyên trong cuộc sống vợ chồng có sự mâu thuẫn nên đã hơn 03 năm vợ chồng anh chị đã sống ly thân nhau, trong khoảng thời gian hơn 03 năm nay chị Nguyên và anh H đã bỏ mặt nhau, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, anh chị không có biện pháp nào để vợ chồng cùng nhau hàn gắng đoàn tụ, như vậy trong cuộc sống hôn nhân vợ chồng chị Nguyên và anh H đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Từ những phân tích trên đủ căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lâm Thanh Ng.
Về con chung: Anh H và chị Nguyên có được 01 người là Lữ Anh Th, sinh ngày 23/12/2014 hiện nay do chị Thanh Nguyên đang nuôi dưỡng, khi ly hôn chị Nguyên yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy cháu Anh Thư hiện nay được chị Nguyên nuôi dạy phát triển tốt, đảm bảo được cuộc sống cho cháu và được đến trường như bao đứa trẻ khác, tránh làm thay đổi môi trường sống của cháu và để cháu an tâm đi học. Nên Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Lữ Anh Th cho chị Thanh Nguyên tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lâm Thanh Ng không yêu cầu anh Lữ H cấp dưỡng nuôi con, nên hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản, nợ chung: Chị Lâm Thanh Ng khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét đến.
Đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Chị Lâm Thanh Ng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thanh Ng.
Về hôn nhân: Chị Lâm Thanh Ng và anh Lữ H được ly hôn
Về con chung: Chị Lâm Thanh Ng được tiếp tục nuôi con chung Lữ Anh Th, sinh ngày 23/12/2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lâm Thanh Ng không yêu cầu anh Lữ H cấp dưỡng nuôi con, nên hội đồng xét xử không xem xét.
Không ai được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung. Vì quyền và lợi ích hợp pháp của chung, khi cần thiết và có yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, cũng như phần cấp dưỡng nuôi con
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lâm Thanh Ng khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét đến
2/ Về án phí: Chị Lâm Thanh Ng phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (án phí về hôn nhân gia đình), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009691 ngày 28/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành. Chị Lâm Thanh Ng đã nộp xong án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho các đương sự vắng mặt tại phiên toà biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết nơi cư trú.
| Nơi"nhận:" - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Châu Thành; - CCTHADS huyện Châu Thành; - Các đương sự; - UBND phường 5, tp Trà Vinh; - Lưu; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phú Hiệp |