- Tranh chấp gì? án hành chính — "Người khởi kiện: Ông Ngô Văn C, sinh năm 1955; cư trú tại thôn H, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định"
- Tòa quyết gì? Bác đơn kháng cáo của ông Ngô Văn C. Giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 60/2019/HC-ST ngày 22/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Căn cứ chính? Luật khiếu nại; Nghị định số 75/2012/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều của…; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/ 2020 /HC-PT Ngày: 19/5/ 2020 V/v “Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại và hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tiến
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Tấn Long
Ông Phạm Việt Cường
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Tuyết Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 127/2020/TLPT-HC ngày 10 tháng 02 năm 2020 về “Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại và hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.
Do bản án hành chính sơ thẩm số 60/2019/HC- ST ngày 22 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 559/2020/QĐPT-HC ngày 20 tháng 4 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Ông Ngô Văn C, sinh năm 1955; cư trú tại thôn H, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Có mặt
2. Người bị kiện:
2.1 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định;
2.2 Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định;
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình Th. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
2.3 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1 Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
3.2 Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện T, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.
3.3 Ban Quản lý hu kinh tế tỉnh Bình Định;
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Phi L – Trưởng ban
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Anh T1 – Phó phòng quản lý quy hoạch xây dựng. Có mặt
3.4. Bà Đỗ Thị Xuân M, Có đơn xin xét xử vắng mặt.
3.5. Anh Ngô Văn U, Có đơn xin xét xử vắng mặt.
3.6. Anh Ngô Văn T2, Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đ ng cư trú tại thôn H, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định
3.7. Chị Ngô Thị Vì S, sinh năm 1983; cư trú tại khu phố 5, phư ng T3, quận Y, TP. H Chí Minh; Vắng mặt.
3.8. Anh Ngô Văn , sinh năm 1991; cư trú tại phư ng T3, quận Y, TP. H Chí Minh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện ngày 19/02/2019 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 15/3/2019, các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa, người khởi kiện ông Ngô Văn C trình bày:
Về ngu n gốc, quá trình sử dụng, hiện trạng đất: Đất do gia đình khai hoang tr ng rau màu và cây chắn gió từ năm 1975. hi có dự án tr ng rừng PAM năm 1994, đã tham gia tr ng được 7.200m2 thuộc khoảnh số 1, lô 3, tiểu khu 298; trong tổng số hộ tr ng là 62 hộ và 25,94ha. Do khi có đư ng 639 (năm 1997) cắt phần phía đông thành dự án tr ng rừng khác, nên còn lại 2.257,2m2, được thể hiện ở thửa đất số 57, theo bản đ khu di dãn dân vùng ngập lũ, triều cư ng thôn H1, ban hành theo Quyết định số 2119/QĐ-CTUBND ngày 08/11/2012 của UBND huyện T. Ngoài phần diện tích 61,1m2 đã được thu h i sau khi b i thư ng đất (15.000đ/m2), hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề (30.000đ/m2) và cây là 19.840đ/cây, phần diện tích còn lại đang có yêu cầu giải quyết là 2.194,1m2. Với giới cận: phía bắc nằm kề ngoài khu di dãn dân và đất của ông Trần Thanh S1, phía nam là đất ông Ngô Văn Đ, phía đông giáp đư ng 639 và phía Tây là đất ông Huỳnh Văn H3. Theo các văn bản của cấp huyện và xã, thì phần diện tích 2.194,1 m2 nằm trong thửa đất số 5, t bản đ số 15, thuộc tiểu khu 297A. Cuối năm 2014 xảy ra việc tranh chấp đất giữa hộ ông Ngô Văn C và ông Huỳnh Văn H3 ở cùng thôn H. Sau khi nhận được đơn khiếu nại của các ông về vấn đề tranh chấp trên, Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã P có Công văn số 06/UBND-ĐC ngày 25/2/2015 về việc trả l i các bên tranh chấp với nội dung: “Việc các ông tranh chấp một số diện tích đất vị trí ở phía tây đường ĐT 639, phía bắc giáp đường quy hoạch khu dân cư di dãn dân vùng ngập lũ, triều cường H1, là không có cơ sở xem xét giải quyết. Bởi vì diện tích đất các ông tranh chấp theo hồ sơ địa chính đang quản lý tại UBND xã P thể hiện tại thửa đất số 5, tờ bản đồ số 15, loại đất rừng trồng sản xuất do UBND xã P quản lý; diện tích này đã được UBND tỉnh Bình thu hồi giao cho Ban Quản lý Khu kinh tế N tại Quyết định số 423/QĐ-UBND ngày 24/7/2007 về việc giao đất cho Ban Quản lý khu kinh tế N (Nay là Ban quản lý khu kinh tế tỉnh Bình Định) để thực hiện các dự án đầu tư xây dựng các khu chức năng trong Khu kinh tế N và Quyết định số 581/QĐ-UBND ngày 16/10/2008 về việc thu hồi đất và giao đất cho Ban Quản lý Khu kinh tế N để thực hiện các dự án đầu tư xây dựng khu chức năng trong Khu kinh tế N (lần 2) các ông không phải là chủ sử dụng đối với diện tích đất này. Hành vi chiếm đất xây dựng nhà ở trái phép của ông Huỳnh Văn H3 và một số hộ dân khác, UBND xã P đang tiến hành các thủ tục xử lý theo quy định pháp luật”.
Ông C không đ ng ý với công văn số 06/UBND-ĐC ngày 25/02/2015 nói trên vì cho rằng về phần diện tích 2.194,1m2 nằm trong thửa đất số 5, t bản đ số 15, thuộc tiểu khu 297A nói trên là của gia đình ông C. Do đó, ngày 05/3/2015 ông C có đơn khiếu nại Công văn số 06/UBND-ĐC ngày 25/02/2015 nói trên đến Chủ tịch UBND xã P.
Ngày 17/4/2015 Chủ tịch UBND xã P ban hành Quyết định số 51/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Ngô Văn C với nội dung: “Công nhận nội dung công văn số 06/UBND-ĐC ngày 25/02/2015 của Chủ tịch UBND xã P là đúng quy định pháp luật”.
hông đ ng ý với Quyết định giải quyết của UBND xã P, ngày 11/5/2015 ông C tiếp tục khiếu nại đến UBND huyện T; Ngày 24/01/2019 ông C mới nhận được Quyết định số 4527/QĐ-UBND ngày 14/9/2015 của Chủ tịch UBND huyện T về việc giải quyết khiếu nại của ông Ngô Văn C (lần hai) với nội dung: “Công nhận Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 51/QĐ-UBND ngày 17/4/2015 của Chủ tịch UBND xã P là đúng. Không công nhận nội dung đơn khiếu nại đề ngày 11/5/2015 của ông Ngô Văn C”.
hông đ ng ý với 02 Quyết định về việc giải quyết khiếu nại trên và cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm nên ngày 19/02/2019 và ngày 15/3/2019 ông C có đơn khởi kiện và đơn khởi kiên bổ sung vụ án hành chính yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 4527/QĐ-UBND ngày 14/9/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T và Quyết định số 51/QĐ-UBND ngày 17/4/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P và công nhận quyền sử dụng đất trên diện tích 2.194,1m2 cho hộ gia đình ông C thuộc loại đất nông nghiệp tr ng cây lâu năm khác.
Bên cạnh đơn khởi kiện vụ án hành chính, bản sao các quyết định hành chính bị kiện, ông C còn cung cấp cho Tòa án một số tài liệu, chứng cứ khác có liên quan ðến yêu cầu khởi kiện. Ngoài ra, ông C không tự mình thu thập được bất kỳ chứng cứ nào khác và cũng không có yêu cầu Tòa án thu thập thêm tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc giải quyết vụ án.
- Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: Chủ tịch UBND huyện T và UBND huyện T, tỉnh Bình Định, ông Nguyễn Đình Th - Chủ tịch UBND huyện T trình bày:
- Về h sơ địa chính vị trí đất ông Ngô Văn C khiếu nại yêu cầu công nhận cho ông C sử dụng tại thôn H, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định:
+ Theo h sơ địa chính chính quy lập năm 1993: Diện tích đất này thuộc rừng phòng hộ, không có giải thửa, do UBND xã P quản lý.
+ Theo h sơ địa chính lập năm 2013 (đo đạc theo dự án Vlap): Thể hiện tại thửa đất số 05, t bản đ số 15, diện tích 157.595.6m2 loại đất tr ng rừng sản xuất, do UBND xã P quản lý, không có giải thửa cho từng hộ tr ng rừng.
- Về ngu n gốc đất: Toàn bộ diện tích đất ông C khiếu nại yêu cầu công nhận cho các ông sử dụng trước đây là đất bãi cát b i, năm 1994 ông C và nhiều hộ nhận giống cây phi lao từ Hợp tác xã Nông nghiệp II P để tr ng rừng theo dự án PAM.
- Về dự án PAM: Các hộ chỉ nhận giống tr ng rừng tại tiểu khu 298 và được nhận tiền, lương thực dựa trên diện tích nhận tr ng tùy vào mỗi hộ. Đối tượng được xác định là chủ rừng quy định tại Điều 3 của Quyết định số 145/1998/QĐ-TTg ngày 15/8/1998 của Thủ tướng Chính phủ quy định về chính sách quản lý và sử dụng rừng tr ng bằng ngu n vốn tài trợ của Chương trình lương thực thế giới (PAM), mặt khác diện tích này thuộc quy hoạch hu kinh tế N. Do đó hộ ông C tham gia tr ng rừng theo dự án PAM tại thôn H nhưng không phải chủ rừng. Nhà nước không giao đất bằng Quyết định hành chính hoặc bằng bất kỳ văn bản nào khác cho các hộ tr ng rừng ở thôn H vào th i điểm triển khai chương trình tr ng rừng PAM năm 1994, kể cả hộ ông C. Do đây là diện tích đất rừng phòng hộ do Nhà nước quản lý, các hộ chỉ tham gia nhận giống tr ng rừng (cây phi lao) theo dự án PAM năm 1994, ông C không phải là chủ rừng nên không thuộc đối tượng nộp thuế hàng năm.
Năm 2012, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 479/QĐ-UBND ngày 22/8/2012 thu h i một phần diện tích đất để xây dựng công trình: Di dãn dân vùng triều cư ng ngập lũ tại thôn H1, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Đ ng th i vị trí, diện tích đất nêu trên cũng đã được UBND tỉnh thu h i và giao đất cho Ban quản lý hu kinh tế N (nay là Ban Quản lý hu kinh tế tỉnh) để thực hiện các dự án đầu tư xây dựng, các khu chức năng trong hu kinh tế N tại Quyết định số 423/QĐ-UBND ngày 24/7/2007 và Quyết định số 581/QĐ-UBND ngày 16/10/2008.
Từ những cơ sở nêu trên, Chủ tịch UBND xã P ban hành Quyết định số 51/QĐ-UBND ngày 17/4/2015 về việc giải quyết khiếu nại đối với ông Ngô Văn C và Chủ tịch UBND huyện T ban hành Quyết định số 4527/QĐ-UBND ngày 14/9/2015 về việc giải khiếu nại lần hai đối với ông Ngô Văn C là đúng quy định pháp luật. Nên việc ông C yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất trên diện tích 2.194,1m2 đất cho hộ gia đình ông C thuộc loại đất nông nghiệp tr ng cây lâu năm khác là không có căn cứ theo quy định của pháp luật.
Do đó ông không đ ng ý yêu cầu khởi kiện của ông C và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Người đại diện hợp pháp của người bị kiện, ông Huỳnh Thanh V - Chủ tịch UBND xã P trình bày:
- Về ngu n gốc và hiện trạng đất: Diện tích đất ông Ngô Văn C, Ngô Văn A, Trần Thanh S1 tranh chấp với ông Huỳnh Văn H3 tọa lạc tại thôn H, phía đông giáp đư ng ĐT 639, phía tây giáp khu dân cư hiện trạng, phía bắc giáp đư ng quy hoạch khu di dãn dân ngập lũ triều cư ng H1; trước đây là đ i cát, năm 1994 các hộ dân ở thôn H nhận giống phi lao tr ng rừng theo dự án PAM, hiện trạng là rừng phi lao.
- Về h sơ địa chính
Theo h sơ địa chính năm 1993 diện tích đất này thuộc rừng phòng hộ, không có giải thửa, do UBND xã P quản lý.
Theo h sơ địa chính đo đạc theo dự án Vlap năm 2013 thể hiện tại thửa đất số 5, t bản đ số 15, diện tích 157.595,6 m2 loại đất rừng tr ng sản xuất, không có giải thửa cho hộ tr ng rừng.
- Các văn bản của cấp có thẩm quyền:
+ Căn cứ Quyết định số 145/1998/QĐ-TTg ngày 15/8/1998 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách quản lý và sử dụng rừng tr ng bằng ngu n vốn tại trợ của chương trình lương thực thế giới PAM; theo đó năm 1994 các hộ nhận giống tr ng rừng theo dự án PAM, nên các hộ không phải là chủ sử dụng đất đối với diện tích đất rừng tr ng, mà đất là của Nhà nước do UBND xã P quản lý.
+ Căn cứ Quyết định số 479/QĐ-UBND ngày 22/8/2012 của UBND tỉnh Bình Định về việc thu h i đất và giao đất cho Ban quản lý dự án và đầu tư xây dựng huyện T để xây dựng công trình Di dãn dân vùng ngập lũ triều cư ng tại xã P, huyện T; tại Điều 1 Quyết định có nêu thu hồi 50.496,63 m2 đất do UBND xã P quản lý, chưa giao quyền sử dụng đất và giao đất cho Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện T để xây dựng công trình Di dãn dân vùng ngập lũ triều cường H1.
+ Căn cứ Công văn số 705/UBND-TNMT ngày 08/10/2012 của UBND huyện T về việc xác định loại đất, hạng đất nông nghiệp để áp giá b i thư ng, giải phóng mặt bằng công trình Di dãn dân vùng ngập lũ triều cư ng H1 - P; theo nội dung công văn UBND huyện T chỉ cho chủ trương tính toán áp giá b i thư ng, hổ trợ đất phạm vi công trình Di dãn dân vùng ngập lũ triều cư ng H1 thuộc nhóm đất nông nghiệp, loại đất tr ng cây lâu năm; hạng 5; không phải công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất các hộ tr ng rừng PAM năm 1994 (trong đó có diện tích hiện nay ông Ngô Văn C, Ngô Văn A, Trần Thanh S1 đang tranh chấp với ông Huỳnh Văn H3).
+ Vị trí đất này UBND tỉnh Bình Định đã thu h i và giao cho Ban quản lý hu kinh tế tỉnh Bình Định để Ban quản lý khu kinh tế thực hiện các dự án đầu tư xây dựng các khu chức năng tại Quyết định số 423/QĐ-UBND ngày 24/7/2007 và Quyết định số 581/QĐ-UBND ngày 16/10/2008.
Từ những căn cứ trên, UBND xã P khẳng định Văn bản số 06/UBND-ĐC ngày 25/02/2015 và Quyết định số 51/QĐ-UBND ngày 17/4/2015 của Chủ tịch UBND xã P đối với ông Ngô Văn C là hoàn toàn đúng theo quy định pháp luật.
Do đó ông không đ ng ý yêu cầu khởi kiện của ông C và đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND xã P, huyện T, ông Huỳnh Thanh V - Chủ tịch UBND xã P, huyện T trình bày:
Thống nhất với nội dung trình bày của Chủ tịch UBND huyện T.
Ngoài ra, UBND xã P, huyện T không có trình bày nào khác.
- Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện T, ông Nguyễn Đình Hồng Thoại - Phó Giám đốc Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện T trình bày:
Căn cứ văn bản số 1053/UBND-NN ngày 15/4/2009 của UBND tỉnh Bình Định về việc lập dự án đầu tư công trình: Di dãn dân vùng ngập lũ triều cư ng H1, huyện T; Căn cứ Quyết định số 1831/QĐ-CTUBND ngày 13/8/2009 của Chủ tịch UBND huyện T về việc phê duyệt thiết kế quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 công trình: Quy hoạch khu dân cư thôn H1, xã P, huyện T; Căn cứ Quyết định số 867/QĐ-CTUBND ngày 26/4/2010 của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định về việc thu h i đất và giao đất cho Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện T để xây dựng công trình Di dãn dân vùng ngập lũ triều cư ng tại xã P, huyện T. Căn cứ Quyết định số 479/QĐ-UBND ngày 22/8/2012 của UBND tỉnh Bình Định về thu h i đất và giao đất cho Ban quản lý dự án và đầu tư xây dựng huyện T để xây dựng công trình Di dãn dân vùng ngập lũ triều cư ng tại xã P huyện T. Ban quản lý dự án huyện T khẳng định việc triển khai thi công công trình Di dãn dân vùng ngập lũ triều cư ng tại xã P, huyện T thi công trong phần đất được UBND huyện phê duyệt quy hoạch và UBND tỉnh giao đất cho Ban quản lý thực hiện xây dựng công trình. Việc khiếu nại của ông Ngô Văn C khiếu nại các Quyết định giải quyết khiếu nại số 51/QĐ-UBND ngày 17/4/2015 của Chủ tịch UBND xã P không thuộc diện tích giao cho Ban quản lý dự án thực hiện.
Ngoài ra, ông không có trình bày hoặc yêu cầu độc lập nào khác.
- Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ban quản lý khu kinh tế tỉnh, Ông Lê Anh T1 - Chức vụ: Phó Trưởng phòng Quản lý QHXD, thuộc Quản lý Khu kinh tế tỉnh Bình Định trình bày:
Vị trí thửa đất mà ông C khởi kiện có giới cận cụ thể như sau: Phía Đông giáp tuyến đư ng ĐT639, phía Tây giáp hu dân cư hiện trạng, phía Nam giáp với rừng phi lao, phía Bắc giáp với đư ng quy hoạch khu di dân ngập lũ triều cư ng.
hu vực này thuộc địa bàn hu kinh tế N. Theo quy hoạch chung hu kinh tế N đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 142/2005/QĐ-TTg ngày 14/6/2005 thì khu vực này là đất cây xanh sinh thái, đã được UBND tỉnh giao cho Ban Quản lý khu kinh tế để thực hiện các dự án đầu tư xây dựng các khu chức năng trong hu kinh tế N tại các Quyết định số 423/QĐ-UBND ngày 24/7/2007 và Quyết định số 581/QĐ-UBND ngày 16/10/2008. Hiện nay Ban Quản lý hu kinh tế chưa thực hiện công tác b i thư ng, GPMB khu vực này.
Theo đ án điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng hu kinh tế N đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 514/QĐ-TTg ngày 08/5/2019 thì khu vực này thuộc phân khu 2 ( hu đô thị cửa ngõ Cát Tiến), được quy hoạch đất ở. Th i gian tới Ban Quản lý hu kinh tế sẽ tổ chức lập đ án quy hoạch phân khu để làm cơ sở thu hút đầu tư và quản lý nhà nước theo quy định.
Ban Quản lý khu kinh tế tỉnh Bình Định đề nghị Tòa án xem xét và giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật đối với yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Văn C.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Xuân M, anh Ngô Văn U, anh Ngô Văn T2, chị Ngô Thị Vì S và anh Ngô Văn K đều trình bày:
Tất cả đều thống nhất như nội dung trình bày và yêu cầu khởi kiện nói trên của ông Ngô Văn C. Ngoài ra, không có trình bày nào khác.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Huỳnh Văn H3 trình bày: Ông H3 đang quản lý và sử dụng 02 thửa đất số 62 và 63, t bản đ số 1 tại thôn H, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định còn việc tranh chấp đất với ông Ngô Văn C tại thửa số 57 nói trên thì ông H3 không biết và cũng không tranh chấp gì với ông C. Do đó, ông H3 không liên quan gì về việc khởi kiện của ông C.
Với nội dung trên,
Tại bản án hành chính sơ thẩm số: 60/2019/HC- ST ngày 22 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định đã quyết định:
- Căn cứ vào quy định tại các Điều 30; Điều 32; Điều 116; Điều 157; Điều 158; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 193 và Điều 194 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
- Căn cứ quy định tại Luật khiếu nại số 02/2011/QH13 ngày 11/11/2011; Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19/6/2015; Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003; Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính; Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật hiếu nại ngày 11/11/2011; Thông tư số 60/2014/TT-BCA ngày 18/11/2014 của Bộ Công an; Luật đất đai ngày 29/11/2013; Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai;
- Căn cứ Điều 29 Luật Tố tụng hành chính; Điều 2 Luật ngư i cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng Vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Văn C yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 4527/QĐ-UBND ngày 14/9/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, Quyết định số 51/QĐ-UBND ngày 17/4/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P và công nhận quyền sử dụng đất trên diện tích 2.194,1m2 cho hộ gia đình ông Ngô Văn C thuộc loại đất nông nghiệp tr ng cây lâu năm khác.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 04/12/2019, ngư i khởi kiện – ông Ngô Văn C kháng cáo toàn bộ bản án hành chính sơ thẩm với nội dung: Bản án tuyên không dựa trên các tài liệu, chứng cứ, thiếu khách quan, chưa đủ cơ sở pháp lý, làm mất quyền và lợi ích hợp pháp của ngư i khởi kiện, yêu cầu hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Ngư i khởi kiện không rút đơn khởi kiện, không rút đơn kháng cáo mà vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị cụ thể như sau:
+ Tuyên hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 60/2019/HC-ST ngày 22/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định;
+ Hủy các Quyết định số 51/QĐ-UBND ngày 17/4/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P, Quyết định số 4527/QĐ-UBND ngày 14/9/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T;
+ Công nhận quyền sử dụng diện tích 1965,5m2 đất thuộc thửa số 55, loại đất nông nghiệp tr ng cây lâu năm cho hộ gia đình ngư i khởi kiện;
+ Yêu cầu UBND huyện T phải xử lý tháo dỡ dứt điểm, có th i hạn cụ thể các vật chướng ngại do ông Huỳnh Văn H3 lập ra trên diện tích đất đã chiếm.
iểm sát viên đề nghị Hội đ ng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ngư i khởi kiện, giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 60/2019/HC-ST ngày 22/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
Sau khi nghe: Ngư i kháng cáo trình bày nội dung kháng cáo, ý kiến của các bên liên quan đến nội dung kháng cáo và tranh luận tại phiên tòa. Ý kiến của iểm sát viên về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và quan điểm của Viện kiểm sát về giải quyết vụ án. Sau khi thảo luận và nghị án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Xét kháng cáo của ông Ngô Văn C yêu cầu: Công nhận quyền sử dụng diện tích 1965,5m2 đất thuộc thửa số 55, loại đất nông nghiệp tr ng cây lâu năm cho hộ gia đình Ông và hủy các Quyết định số 51/QĐ-UBND ngày 17/4/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P, Quyết định số 4527/QĐ-UBND ngày 14/9/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T thì thấy:
. Về ngu n gốc đất: Theo h sơ địa chính chính quy lập năm 1993: Diện tích đất này thuộc rừng phòng hộ, không có giải thửa, do UBND xã P quản lý.
Theo h sơ địa chính lập năm 2013 (đo đạc theo dự án Vlap): Thể hiện tại thửa đất số 05, t bản đ số 15, diện tích 157.595.6m2 loại đất tr ng rừng sản xuất, do UBND xã P quản lý, không có giải thửa cho từng hộ tr ng rừng.
Toàn bộ diện tích đất ông C khiếu nại yêu cầu công nhận cho ông sử dụng trước đây là đất bãi cát b i, năm 1994 ông C và nhiều hộ nhận giống cây phi lao từ Hợp tác xã Nông nghiệp II P để tr ng rừng theo dự án PAM. Do đây là diện tích đất rừng phòng hộ do Nhà nước quản lý, các hộ chỉ tham gia nhận giống tr ng rừng (cây phi lao) theo dự án PAM năm 1994.
. Ngày 22/8/2012, UBND tỉnh Bình Định ban hành Quyết định số 479/QĐ-UBND thu h i một phần diện tích đất để xây dựng công trình: Di dãn dân vùng triều cư ng ngập lũ tại thôn H1, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định trong đó hộ ông C bị thu h i 61,1m2 và đã được giải quyết b i thư ng, hỗ trợ theo quy định. Diện tích đất còn lại đã được UBND tỉnh Bình Định thu h i giao cho Ban Quản lý hu kinh tế N theo Quyết định số 423/QĐ-UBND ngày 24/7/2007 về việc giao đất cho Ban Quản lý khu kinh tế N (Nay là Ban quản lý khu kinh tế tỉnh Bình Định) để thực hiện các dự án đầu tư xây dựng các khu chức năng trong hu kinh tế N và Quyết định số 581/QĐ-UBND ngày 16/10/2008 về việc thu h i đất và giao đất cho Ban Quản lý hu kinh tế N để thực hiện các dự án đầu tư xây dựng khu chức năng trong hu kinh tế N (lần 2). Theo công văn số 1263/BQL-QLTNMT ngày 24/10/2018 của Ban quản lý khu kinh tế tỉnh Bình Định (bl 208) trả l i ông Ngô Văn C thì: “ hi triển khai đầu tư xây dựng từng khu chức năng theo quy hoạch của T N thì Ban Quản lý hu kinh tế sẽ đề nghị UBND cấp huyện thu h i đất từng hộ bị ảnh hưởng theo quy định tại Điều 64 Luật Đất đai năm 2013 và thực hiện b i thư ng giải phóng mặt bằng theo quy định. Trong th i gian chưa giải phóng mặt bằng, việc quản lý và sử dụng đất trong phạm vi quy hoạch T N phải tuân theo quy định hiện hành của Nhà Nước ”.
. Công văn số 06/UBND-ĐC ngày 25/2/2015 của UBND xã P về việc trả l i các bên tranh chấp với nội dung: “Việc các ông tranh chấp một số diện tích đất vị trí ở phía tây đường ĐT 639, phía bắc giáp đường quy hoạch khu dân cư di dãn dân vùng ngập lũ, triều cường H1, là không có cơ sở xem xét giải quyết. Bởi vì diện tích đất các ông tranh chấp theo hồ sơ địa chính đang quản lý tại UBND xã P thể hiện tại thửa đất số 5, tờ bản đồ số 15, loại đất rừng trồng sản xuất do UBND xã P quản lý; diện tích này đã được UBND tỉnh Bình thu hồi giao cho Ban Quản lý Khu kinh tế N tại Quyết định số 423/QĐ-UBND ngày 24/7/2007 về việc giao đất cho Ban Quản lý khu kinh tế N (Nay là Ban quản lý khu kinh tế tỉnh Bình Định) để thực hiện các dự án đầu tư xây dựng các khu chức năng trong Khu kinh tế N và Quyết định số 581/QĐ-UBND ngày 16/10/2008 về việc thu hồi đất và giao đất cho Ban Quản lý Khu kinh tế N để thực hiện các dự án đầu tư xây dựng khu chức năng trong Khu kinh tế N (lần 2) các ông không phải là chủ sử dụng đối với diện tích đất này. Hành vi chiếm đất xây dựng nhà ở trái phép của ông Huỳnh Văn H3 và một số hộ dân khác, UBND xã P đang tiến hành các thủ tục xử lý theo quy định pháp luật” là phù hợp với các nội dung đã nhận định ở trên.
Ông C không đ ng ý với công văn số 06/UBND-ĐC ngày 25/02/2015 nói trên và đã khiếu nại đến Chủ tịch UBND xã P.
Ngày 17/4/2015 Chủ tịch UBND xã P ban hành Quyết định số 51/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Ngô Văn C với nội dung: “Công nhận nội dung công văn số 06/UBND-ĐC ngày 25/02/2015 của Chủ tịch UBND xã P là đúng quy định pháp luật”.
hông đ ng ý với Quyết định giải quyết của UBND xã P, ngày 11/5/2015 ông C lại tiếp tục khiếu nại đến UBND huyện T. ngày 24/01/2019, Chủ tịch UBND huyện T đã ban hành Quyết định số 4527/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Ngô Văn C (lần hai) với nội dung: “Công nhận Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 51/QĐ-UBND ngày 17/4/2015 của Chủ tịch UBND xã P là đúng. Không công nhận nội dung đơn khiếu nại đề ngày 11/5/2015 của ông Ngô Văn C”.
. Bản án sơ thẩm nhận định: “Đ ng th i, hiện tại thửa đất nói trên cũng đã được UBND tỉnh thu h i và giao cho Ban quản lý khu kinh tế tỉnh quản lý. Tại phiên tòa, ông C cũng thừa nhận diện tích 2.194,1m2 đất mà hộ ông C tr ng rừng (cây phi lao) hiện nay Ban quản lý khu kinh tế tỉnh Bình Định chưa làm đến, mà hiện nay hộ ông C vẫn còn quản lý khai thác thu hoạch cây phi lao vì Ban quản lý khu kinh tế tỉnh chưa làm đến nên chưa b i thư ng diện tích 2.194,1m2 cho hộ ông C.
Do đó, việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T ban hành Quyết định số 4527/QĐ-UBND ngày 14/9/2015 và Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P ban hành Quyết định số 51/QĐ-UBND ngày 17/4/2015 là có cơ sở và đúng trình tự thủ tục quy định của pháp luật ” và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 4527/QĐ-UBND ngày 14/9/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T và Quyết định số 51/QĐ-UBND ngày 17/4/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P và công nhận quyền sử dụng đất trên diện tích 2.194,1m2 cho hộ gia đình ông Ngô Văn C thuộc loại đất nông nghiệp tr ng cây lâu năm khác là có căn cứ, đúng với thực tế đang quản lý và sử dụng đất của ông C. Diện tích 2.194,1m2 đất hộ gia đình ông Ngô Văn C đang sử dụng sẽ được xem xét b i thư ng, hỗ trợ khi có quyết định thu h i đất cụ thể cho từng đối tượng theo quy định của Luật đất đai năm 2013.
. Tại phiên tòa phúc thẩm ông Ngô Văn C kháng cáo yêu cầu được xem xét lại quyết định của Bản án sơ thẩm nhưng không có chứng cứ nào mới nên Hội đ ng xét xử phúc thẩm bác đơn kháng cáo của ông Ngô Văn C, giữ nguyên quyết định Bản án hành chính sơ thẩm số 60/2019/HC-ST ngày 22/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
Án phí phúc thẩm: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn án phí phúc thẩm cho ông Ngô Văn C.
Từ những nhận định trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính.
Bác đơn kháng cáo của ông Ngô Văn C. Giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 60/2019/HC-ST ngày 22/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Áp dụng: Luật khiếu nại số 02/2011/QH13 ngày 11/11/2011; Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19/6/2015; Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003; Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính; Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật hiếu nại ngày 11/11/2011; Thông tư số 60/2014/TT-BCA ngày 18/11/2014 của Bộ Công an; Luật đất đai ngày 29/11/2013; Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai.
1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Văn C yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 4527/QĐ-UBND ngày 14/9/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, Quyết định số 51/QĐ-UBND ngày 17/4/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P và công nhận quyền sử dụng đất trên diện tích 2.194,1m2 cho hộ gia đình ông Ngô Văn C thuộc loại đất nông nghiệp tr ng cây lâu năm khác.
2. Án phí sơ thẩm và phúc thẩm: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Ông Ngô Văn C không phải nộp án phí sơ thẩm và án phí phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC; - V SNDCC tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Bình Định; - V SND tỉnh Bình Định; - Cục THA dân sự tỉnh Bình Định; - Các đương sự; - Lưu: HSVA, lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tiến |