vanban.org

Bản án 59/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 24/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 B luật hình sự.

Tuyên bố: bị cáo Nông Đức M phạm t i "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Xử phạt: bị cáo Nông Đức M 06 (sáu) tháng tù. Th i gian ch p hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo vào trại thụ hình. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nông Đức M phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo khoản 1 Điều 174 BLHS - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 B luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO BẰNG
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2019/HSST
Ngày: 24/6/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Phương

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Khánh Luy

2. Bà Nguyễn Thị Bích Diệp

Thư ký phiên tòa: Ông Lý Xuân Huy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Doanh Thị Ngọc Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2019/HSST ngày 28 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:

Họ và tên: Nông Đức M, tên gọi khác: không; sinh ngày 17/01/1999; nơi sinh: thành phố C, tỉnh Cao Bằng; h khẩu thư ng trú và chỗ ở hiện tại: tổ C, phư ng S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; dân t c: tày; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: không; trình đ học v n: 12/12 phổ thông; con ông: Nông Quốc C, sinh năm 1969; con bà: Chu Thị Hồng G, sinh năm 1977, đều trú tại: tổ C, phư ng S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; anh, chị, em ru t: có 02 anh em, bị cáo là con cả trong gia đình; vợ, con: chưa; tiền sự: không; tiền án: không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: C m đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Bị hại: Vũ Quốc H, sinh năm 2001, HKTT: tổ B, phư ng H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.

Đại diện theo pháp luật: Vũ Xuân T, sinh năm 1963, HKTT: tổ B, phư ng H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.

- Người có quyền lợi liên quan:

1. Vũ Xuân T, sinh năm 1963, HKTT: tổ B, phư ng H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.

2. Phạm Tu n A, sinh năm 1985, HKTT: tổ M, phư ng S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nông Đức M (sinh năm 1999; trú tại tổ C, phư ng S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) quen biết Vũ Quốc H (sinh năm 2001; h khẩu thư ng trú: tổ B, phư ng H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) do thư ng xuyên đi chơi điện tử ở quán game E tại đầu cầu H thu c phư ng S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Vốn bản thân không có công ăn việc làm, lại đang nợ anh Lục Đức B (sinh năm 1993; trú tại: tổ N, phư ng T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) nên khi th y H sử dụng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh-đen-bạc biển kiểm soát 11B1-301.6M, M đã nảy sinh ý định l y xe máy của H mang đi cầm đồ để l y tiền trả nợ cho anh B và tiêu xài cá nhân.

Khoảng 18 gi ngày 22 tháng 02 năm 2019, M gọi điện thoại cho H hỏi mượn xe với lý do đi có việc m t lúc nhưng thực ch t là để M đem đi cầm đồ l y tiền. Do tin tưởng nên khoảng 20 gi cùng ngày, H điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh-đen-bạc biển kiểm soát 11B1-301.6M đến quán game E và đưa xe cho M. Tuy nhiên, do chưa có gi y t xe nên đến ngày 24 tháng 02 năm 2019, M gọi điện thoại cho H nói dối là xe của H đã bị cảnh sát cơ đ ng giữ, cần có gi y t xe để n p phạt l y xe ra. Vì tin tưởng nên H đã đem gi y t xe máy mang tên bố của H là Vũ Xuân T đưa cho M.

Đến chiều ngày 26 tháng 02 năm 2019, M mang xe máy đến hiệu cầm đồ T thu c tổ M, phư ng S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng cầm được số tiền 10.000.000 đồng (mư i triệu đồng). Số tiền trên M đem trả nợ cho anh Lục Đức B hết 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), nạp thẻ game hết 1.500.000 đồng (m t triệu năm trăm nghìn đồng), mua quần áo hết 1.300.000 đồng (m t triệu ba trăm nghìn đồng), số còn lại dùng để tiêu xài hết cho bản thân.

Từ lúc cho M mượn xe, mặc dù H đã nhắn tin, gọi điện nhiều lần nhưng Mạnh vẫn chưa trả lại xe cho Huy. Do dó, Huy đã làm đơn trình báo đến cơ quan Công an thành phố Cao Bằng.

Ngày 09 tháng 3 năm 2019, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng tiến hành tạm giữ vật chứng vụ án bao gồm: 01 (m t) xe máy Honda Wave màu xanh biển kiểm soát 11B1-301.6M; 01 gi y đăng ký xe máy mang tên Vũ Xuân T; 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Nông Đức M; 01 (m t) hợp đồng cầm đồ giữa cửa hàng cầm đồ T và Nông Đức M.

Ngày 15 tháng 3 năm 2019, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã ban hành Yêu cầu định giá tài sản số 62 đối với vật chứng vụ án là chiếc xe máy mang biển kiểm soát 11B1-301.6M. Tại bản kết luận định giá tài sản số 09/KL-TCKH ngày 30 tháng 3 năm 2019 của H i đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: “Giá trị tài sản là 15.200.000 đồng (mười lăm triệu hai trăm nghìn đồng).

Về vật chứng vụ án:

- Ngày 03 tháng 5 năm 2019, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 29 tiến hành trao trả lại cho ông Vũ Xuân T (sinh năm 1963; trú tại: tổ B, phư ng H, thành phố C) 01 (m t) chiếc xe mô tô biển kiểm soát 11B1- 301.6M, m t gi y chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Vũ Xuân T.

- Vật chứng còn lại của vụ án là chứng minh thư nhân dân số 08591129B mang tên Nông Đức M đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Ngày 18 tháng 3 năm 2019, bà Chu Thị Hồng G (sinh năm 1977; trú tại: tổ C, phư ng S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) là mẹ của Nông Đức M đã n p cho cơ quan công an số tiền 10.000.000 đồng (mư i triệu đồng). Ngày 04 tháng 5 năm 2019, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã ra Quyết định xử lý đồ vật tài liệu số 01 tiến hành trao trả lại cho ông Phạm Tu n A (sinh năm 1985; trú tại: tổ M, phư ng S, thành phố C) là chủ cửa hàng cầm đồ T số tiền trên.

Hành vi trên đây của Nông Đức M đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố về t i Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 B luật hình sự.

Tại bản Cáo trạng số 48/CT-VKSTP ngày 27/5/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Nông Đức M về t i “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 B luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nông Đức M thừa nhận hành vi phạm t i của mình đúng như n i dung bản Cáo trạng đã truy tố. L i khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với l i khai tại cơ quan điều tra và l i khai của bị hại, ngư i có quyền lợi liên quan. Bị cáo nh t trí với bản kết luận định giá tài sản của H i đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án: bị cáo đề nghị được trả lại 01 chứng minh thư nhân dân.

Bị hại và những ngư i có quyền lợi liên quan đều vắng mặt tại phiên tòa. Tại đơn xin xét xử vắng mặt những ngư i này đều xác nhận đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thư ng gì thêm. Về trách nhiệm hình sự: đề nghị xét xử theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị H i đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, s, i khoản 1 Điều 51 B luật hình sự, tuyên bố bị cáo Nông Đức M phạm t i "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Đề nghị xử phạt bị cáo Nông Đức M mức án từ 06 đến 09 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: do bị hại và ngư i có quyền lợi liên quan không yêu cầu nên không xem xét. Về xử lý vật chứng: đề nghị trả lại cho bị cáo 01 chứng minh thư nhân dân. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với l i luận t i của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng. Khi được nói l i sau cùng, bị cáo đề nghị H i đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nh t.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, H i đồng xét xử xét th y như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về t i danh: căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và l i khai của bị cáo tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định: do cần tiền trả nợ và tiêu xài cho bản thân nên ngày 22 tháng 02 năm 2019 Nông Đức M đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh- đen- bạc biển kiểm soát 11B1-301.6M có giá trị còn lại là 15.200.000 đồng (mười lăm triệu hai trăm nghìn đồng) của Vũ Quốc H (sinh năm 2001; trú tại: tổ B, phư ng H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) đem đi cầm đồ tại hiệu cầm đồ T thu c tổ M, phư ng S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Số tiền cầm đồ được 10.000.000 đồng (mư i triệu đồng) bị cáo đã sử dụng hết.

Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của ngư i khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có trình đ học v n lớp 12/12 phổ thông, là ngư i có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã h i và vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố c u thành t i “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174 B Luật hình sự.

Về tình tiết định khung: chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh- đen- bạc biển kiểm soát 11B1-301.6M có giá trị còn lại là 15.200.000 đồng (mười lăm triệu hai trăm nghìn đồng) nên hành vi của bị cáo thu c trư ng hợp quy định tại khoản 1 Điều 174 B luật hình sự.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo có 03 tiền sự chưa được xóa nên có nhân thân x u. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm t i của mình, bị cáo phạm t i lần đầu thu c trư ng hợp ít nghiêm trọng, sau khi thực hiện hành vi phạm t i bị cáo đã tác đ ng gia đình n p số tiền 10.000.000 đồng để khắc phục hậu quả cho ông Phạm Tu n A. Vì vậy, bị cáo được hưởng ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 B luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Về hình phạt:

H i đồng xét xử xét th y mức đề nghị hình phạt của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo hoàn toàn phù hợp, tương xứng với tính ch t, mức đ hành vi phạm t i của bị cáo nên cần được ch p nhận. Xét th y cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã h i m t th i gian nh t định mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành ngư i công dân có ích cho gia đình và xã h i.

Ngoài hình phạt chính, theo khoản 5 Điều 174 B luật hình sự bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét th y bị cáo không có nghề nghiệp, do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại và ngư i có quyền lợi liên quan đều xác nhận đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thư ng gì thêm nên H i đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng và tài sản: 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Nông Đức M không liên quan đến hành vi phạm t i của bị cáo, cần trả lại cho bị cáo.

Về các v n đề khác: đối với Phạm Tu n A, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cầm cố tài sản thu c sở hữu của ngư i khác mà không có gi y ủy quyền hợp lệ của ngư i đó cho ngư i mang tài sản đi cầm cố” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 11 Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ bằng hình thức phạt tiền là đúng pháp luật.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, ngư i có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng: khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 B luật hình sự.

Tuyên bố: bị cáo Nông Đức M phạm t i "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Xử phạt: bị cáo Nông Đức M 06 (sáu) tháng tù. Th i gian ch p hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo vào trại thụ hình.

Th i hạn c m đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo không quá th i hạn kể từ khi tuyên án đến th i điểm bị cáo đi ch p hành án phạt tù.

2. Về trách nhiệm dân sự: bị hại và ngư i có quyền lợi liên quan đều xác nhận đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thư ng gì thêm nên H i đồng xét xử không xem xét.

3. Xử lý vật chứng và tài sản:

Áp dụng Điều 47 B luật hình sự, Điều 106 B luật tố tụng hình sự, xử:

Trả lại cho bị cáo 01 chứng minh thư nhân dân số 08591129B mang tên Nông Đức M, Công an tỉnh Cao Bằng c p ngày 03/12/2015.

Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/5/2019.

4. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135 B luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử bu c bị cáo Nông Đức M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo:

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, ngư i có quyền lợi liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ