vanban.org

Bản án 59/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước Tuyên án 25/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

[2] Áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội; Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc K 03 (ba) năm 6(sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 11 tháng 4 năm 2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc K - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? [1]Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN ĐỒNG PHÚ
TỈNH BÌNH PHƯỚC
Bản án số: 59/2019/HSST
Ngày 25/9/2019

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

-Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Võ Quang Dũng

-Hội thẩm nhân dân:

Ông Giang Công Chiến

Bà Trần Thị Thuỳ Trang

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Trương Văn Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Bùi Anh Tuấn, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 48/2019/HSST ngày 19 tháng 7 năm 2019, đối với:

*Bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Ngọc K (Tên gọi khác: Không có tên gọi khác), sinh năm 1969; Nơi sinh: Thừa Thiên Huế; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Trung Hoà, xã Ngọc Định, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp Trung Hoà, xã Ngọc Định, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Ngọc Chính (Đã chết) và bà Trần Thị Sáu, sinh năm 1932; Có vợ là Nguyễn Thị Hồng Sâm, sinh năm 1973 (Đã ly hôn); Có 02 con ruột, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2001; Tiền án,tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11 tháng 4 năm 2019 đến nay.

Có mặt.

*Người bị hại: Ông Phạm Văn M, sinh năm 1968

Trú tại: ấp Chợ, xã Tân Tiến, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

Có mặt.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1969

Trú tại: ấp Chợ, xã Tân Tiến, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

Có mặt.

*Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc K: Bà Trần Thị L – Trợ giúp

viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bình Phước.

Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 01 tháng 6 năm 2014 đến ngày 01 tháng 11 năm 2014, Nguyễn Ngọc K làm thuê cho ông Phạm Văn M (công việc là phụ hồ), do ông Phạm Văn M chưa thanh toán hết tiền công cho Nguyễn Ngọc K nên khoảng 13 giờ ngày 11 tháng 02 năm 2015, Nguyễn Ngọc K đến nhà ông Phạm Văn M tại ấp Chợ, xã Tân Tiến, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước để lấy tiền công mà ông M còn thiếu lại trước đó của K. Khi đến nhà ông M, K gặp bà Nguyễn Thị Th (vợ của ông Phạm Văn M) thì bà T và K cộng sổ để thanh toán tiền công, bà T chỉ trả cho K số tiền là 1.000.000đồng, không đồng ý với số tiền công mà bà Thoa thanh toán nên K không lấy tiền mà đến Uỷ ban nhân dân xã Tân Tiến trình báo sự việc. Tại đây, K được cán bộ Uỷ ban nhân dân xã Tân Tiến giải thích và hướng dẫn K khởi kiện đối với ông M để đòi tiền công. Vì thực hiện việc khởi kiện thì sẽ mất thời gian dài mới lấy được tiền công nên K không làm đơn khởi kiện như hướng dẫn. Do bực tức trong người nên K ra chợ Tân Tiến mua một con dao Thái lan dài khoảng 20,5cm, đến khoảng 14 giờ cùng ngày, K quay lại nhà ông M thấy ông M đang nằm trên giường trong phòng ngủ, K dùng dao đâm 03 (ba) cái vào ngực ông M thì ông M giơ tay lên đỡ nên bị trúng vào tay phải gây thương tích cho ông M. Sau khi gây thương tích, K bỏ chạy ra ngoài đường và bị người dân bắt giữ giao cho Công an xã Tân Tiến, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước còn ông M bị thương và đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa Thánh Tâm.

Ngày 26 tháng 02 năm 2015, ông Phạm Văn M làm đơn yêu cầu khởi tố hành vi cố ý gây thương tích của K đến Công an xã Tân Tiến, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

Theo Giấy chứng nhân thương tích số 233 ngày 17 tháng 02 năm 2015 của bệnh viện đa khoa Thánh Tâm thì Phậm Văn M bị các thương tích:

-Bệnh tỉnh; đau nhức cảng tay phải + chảy máu nhiều.

-Vết thương cảng tay phải vị trí 1/3 trên mặt trong cẳng tay thông từ trước ra sau kích thước (02 x 02)cm bờ sắc gọn, hạn chế vận động ngón IV,V bàn tay trái, tê rần gón IV, V tay trái.

Theo bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 129 ngày 22 tháng 5 năm 2015, của Trung tâm giám đinh y khoa – pháp y sở y tế tỉnh Bình Phước kết luận Phạm Văn M:

-Dấu hiệu qua giám định: Sẹo cẳng tay phải từ 1/3 giữa – trong – sau, kích thước (13 x 0,2)cm bờ gọn, tổn thương hoàn toàn thần kinh trụ bên phải;

Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 37%.

Theo kất luận giám định pháp y tâm thần số 554 ngày 15 tháng 12 năm 2017, của Viện pháp y tâm thần trung ương Biên Hoà kết luận Nguyễn Ngọc K:

-Về y học: Trước, trong, sau khi gây án và hiện nay, đương sự bị bệnh rối loạn nhân cách, cảm xúc không ổn định

-Về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi: Đương sự bị hạn chế năng lực nhận thức và điều khiển hành vi.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) con dao kích thước (20,5 x 2,3)cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, sắc một bên, mủi nhọn kích thước (10,5 x 2,3)cm. Trên bề lưỡi dao có chất dịch đã khô, màu nâu đỏ, phần trên lưỡi dao có chữ “KIWI-BRWD” in chìm, phần cán dao bằng nhựa, màu vàng, kích thước (10 x 2,3)cm, trên cán dao có chữ “KIWI” in nổi.

Cáo trạng số 51/CT-VKS ngày 18 tháng 7 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước truy tố bị can Nguyễn Ngọc K về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội;

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều Điều 38, 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc K mức án từ 05 (năm) đến 06 (sáu) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thoả thuận của bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên toà; buộc bị cáo Nguyễn Ngọc K có nghĩa vụ bồi thường toàn bô thiệt hai cho ông Phạm Văn M số tiền là 61.033.000đồng khấu trừ đi số tiền 3.000.000đồng đã nhận trước đó.

Vật chứng của vụ án: Đối với 01 (một) con dao kích thước (20,5 x 2,3)cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, sắc một bên, mũi nhọn kích thước (10,5 x 2,3)cm. Trên bề lưỡi dao có chất dịch đã khô, màu nâu đỏ, phần trên lưỡi dao có chữ “KIWI-BRWD” in chìm, phần cán dao bằng nhựa, màu vàng, kích thước (10 x 2,3)cm, trên cán dao có chữ “KIWI” in nổi, là vật không sử dụng được. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu và tiêu hủy.

-Người bào chữa cho bị cáo: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm q, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51và Điều 54 xem xét xử bị cáo dưới khung hình phạt.

-Bị cáo Nguyễn Ngọc K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng số 51/CT-VKS ngày 18 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo và đồng ý bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu của ông Phạm Văn M.

-Người bị hại là ông Phạm Văn M có yêu cầu buộc bị cáo Nguyễn Ngọc K bồi thường toàn bộ thiệt hại cho ông Phạm Văn M với tổng số tiền là 61.033.000đồng, khấu trừ đi số tiền đã nhận là 3.000.000đồng.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Về thủ tục tố tụng: Quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đồng Phú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Ngọc K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Do bực tức việc ông Phạm Văn M không trả tiền công nên bị cáo Nguyễn Ngọc K đi ra chợ Tân Tiến mua 01 (một) con dao Thái Lan vào đâm vào ngực ông Phạm Văn M, ý thức chủ quan của bị cáo Nguyễn Ngọc K là muốn đâm chết ông Phạm Văn M, việc ông Phạm Văn M không chết là do ngoài ý muốn của bị cáo Nguyễn Ngọc K. Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung Cáo trạng số 51/CT-VKS ngày 18 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước, phù hợp với lời khai của người bị hại và những người tham gia tố tụng khác về thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận do muốn giải quyết mâu thuẫn cá nhân nên khoảng khoảng 14 giờ ngày 11 tháng 02 năm 2015, Nguyễn Ngọc K dùng 01 (một) con dao kích thước (20,5 x 2,3)cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, sắc một bên, mũi nhọn kích thước (10,5 x 2,3)cm, phần trên lưỡi dao có chữ “KIWI-BRWD” in chìm, phần cán dao bằng nhựa, màu vàng, kích thước (10 x 2,3)cm, trên cán dao có chữ “KIWI” in nổi đâm vào ngực ông Phạm Văn M, ông Phạm Văn M giơ tay lên đỡ và bị trúng vào tay phải gây thương tích. Hậu quả, tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Phạm Văn M do thương tích gây nên hiện tại là 37%. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Nguyễn Ngọc K là người bị bệnh rối loạn nhân cách, bị hạn chế năng lực nhận thức và điều khiển hành vi làm cho bị cáo nhận thức không đầy đủ được tính chất nguy hiểm về hành vi của bị cáo, cũng như hậu quả của hành vi do bị cáo gây ra. Trong trường hợp này, hậu quả đến đâu xử lý đến đó nên hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc K chỉ bị xử lý về tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Nguyễn Ngọc K có hành vi dùng hung khí nguy hiểm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 37%, đây là tình tiết định khung quy định tại điểm c, khoản 3, Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, bị cáo Nguyễn Ngọc K phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã thực hiện quy định tại điểm c, khoản 3, Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi mà bị cáo đã thực hiện là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khoẻ của người khác, một khách thể quan trọng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, ảnh hưởng đến đời sống lành mạnh tại khu dân cư. Bị cáo Nguyễn Ngọc K thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Nguyễn Ngọc K là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, là người bị hạn chế năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, không phải là người mất khả năng nhận thức hoặc mất khả năng điều khiển hành vi của mình theo quy định tại Điều 21 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tôi của mình. Bị cáo nhận thức được dùng dao đâm vào cơ thể của người khác sẽ gây tổn hại sức khoẻ, là hành vi trái pháp luật và bị pháp luật nghiêm trị, vì xem thường pháp luật, xem thường sức khoẻ của người khác nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã phân tích ở trên. Xét thấy, cần xét xử bị cáo bằng một mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân và những tình tiết giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại thời điểm gây án, bị cáo là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức, hạn chế khả năng điểu khiển hành vi của mình; bị cáo đã tác động người thân tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại; là người có công với cách mạng (Có thời gian 02 năm 03 tháng đi bộ đội), là đối tượng được hưởng trợ cấp tàn tật. Đây là những tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại các điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 cần được xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thoả thuận của bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên toà; áp dụng Điều 590 của Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Ngọc K phải bồi thường toàn bộ thiệt hai cho ông Phạm Văn M số tiền là 61.033.000đồng khấu trừ đi số tiền 3.000.000đồng đã nhận, số còn lại phải hoàn trả là 58.033.000đồng.

Vật chứng của vụ án:

Đối với 01 (một) con dao kích thước (20,5 x 2,3)cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, sắc một bên, mũi nhọn kích thước (10,5 x 2,3)cm. Trên bề lưỡi dao có chất dịch đã khô, màu nâu đỏ, phần trên lưỡi dao có chữ “KIWI-BRWD” in chìm, phần cán dao bằng nhựa, màu vàng, kích thước (10 x 2,3)cm, trên cán dao có chữ “KIWI” in nổi là vật không có giá trị sử dụng, áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu và tiêu hủy.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Ngọc K phải nộp theo quy của pháp luật.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc K phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c, khoản 3, Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà đề nghị mức hình phạt, trách nhiệm dân sự đối đối bị cáo và xử lý vật chứng như trên là có cơ sở, được xem xét khi quyết định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

[2] Áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội;

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều Điều 38, 50 và 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc K 03 (ba) năm 6(sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 11 tháng 4 năm 2019.

Tuyên tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án

[3]Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 590 của Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Ngọc K có nghĩa vụ bồi thường toàn bộ thiệt hai cho ông Phạm Văn M số tiền là 58.033.000đồng.

[4] Vật chứng vụ án:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu và tiêu hủy 01 (một) con dao kích thước (20,5 x 2,3)cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, sắc một bên, mũi nhọn kích thước (10,5 x 2,3)cm. Trên bề lưỡi dao có chất dịch đã khô, màu nâu đỏ, phần trên lưỡi dao có chữ “KIWI-BRWD” in chìm, phần cán dao bằng nhựa, màu vàng, kích thước (10 x 2,3)cm, trên cán dao có chữ “KIWI” in nổi

[5]Án phí sơ thẩm:

Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Nguyễn Ngọc K nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 2.901650 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, tổng số tiền án phí bị cáo Nguyễn Ngọc K phải nộp là 3.101650đồng .

[6]Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ