vanban.org

Bản án 59/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Đan Phượng, TP. Hà Nội Tuyên án 25/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Vũ Đình M: 17 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2019.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Vũ Đình M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 59/2019/HSST Tuyên án 25/07/2019
Phúc thẩm Bản án 734/2019/HSPT-QĐ Tuyên án 30/09/2019

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Vũ Đình M: 17 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2019.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐAN PHƯỢNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2019/HSST
Ngày: 25/7/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Hoan

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Như Hoa.

2. Ông Tạ Văn Nhật.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọt - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân nhân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 58/HSST ngày 05 tháng 7 năm 2019, đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Đình M - sinh năm 1975; ĐKHKTT và trú tại: Cụm 2, xã LT, huyện Đp, Thành phố HN; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: Lớp 01/12; dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đình T, sinh năm 1944 và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1947; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con lớn nhất; có vợ là Nguyễn Thị L, sinh năm 1980 (đã ly hôn) và 01 con, sinh năm 2000); tiền án: Ngày 28/6/2017 TAND huyện Đan Phượng, Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ra trại ngày 22/01/2017; tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 19/11/1999, TAND huyện Từ Liêm xử 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 30/7/2007, TAND huyện Đan Phượng xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 18/6/2008, TAND huyện Đan Phượng xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 09/4/2009, TAND huyện Đan Phượng xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 27/12/2013, TAND huyện Đan Phượng xử 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ra trại ngày 31/01/2015. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2019 đến nay tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội.

Người bào chữa cho bị cáo Vũ Đình M: Ông Nguyễn Hữu M - Bào chữa viên nhân dân thuộc Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam huyện Đan Phượng thành phố Hà Nội (theo quy định tại khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự):

Bị hại:

+ Anh Đỗ Việt C, sinh năm 1978;

+ Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1984;

+ Anh Nguyễn Văn L; sinh năm 1982;

Cùng ĐKHKTT: Xã NT, huyện NT, tỉnh NĐ,

Cùng cư tại: Làng Hồ Điền, xã LT, huyện ĐP, TP Hà Nội.

+ Anh Hoàng Văn L, sinh năm 1987; nơi ĐKHKTT:

+ Chị Đỗ Thị X, sinh năm 1989;

Cùng ĐKHKTT: xã Lâm Thượng, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái,

Cùng cư trú: Cụm 3, xã LT, huyện ĐP, Thành phố Hà Nội.

+ Anh Lò Văn H, sinh năm 1990; nơi ĐKHKTT: xã Trung Đông, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu; nơi cư trú: cụm 6, xã Tl, huyện ĐP, Thành phố Hà Nội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Bá T, sinh năm 1986; nơi cư trú: Cụm 11, xã Tl, huyện ĐP, Thành phố Hà Nội.

Tại phiên tòa: Bị cáo, người bào chữa có mặt; người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt.

NHẬN THẤY:

Bị cáo Vũ Đình M bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội truy tố về hành vi phạm tội như sau: Vũ Đình M sinh năm 1975 ở cụm 2, xã LT, huyện ĐP là đối tượng lang thang trộm cắp vặt, từ tháng 10/2018 đến tháng 4/2019 M đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Đan Phượng, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 12/10/2018, Vũ Đình M đến xưởng sản xuất đồ gỗ của công ty cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển đô thị Thăng Long (địa chỉ: làng Hồ Điền, xã LT, huyện ĐP, Hà Nội). Sau khi quan sát thấy cửa xưởng gỗ mở công nhân đang ngủ, M vào tầng 1 lấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Pro màu vàng hồng của anh Đỗ Việt C sinh năm 1978; M tiếp tục lên tầng 2 lấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu vàng nhạt của anh Nguyễn Văn L sinh năm 1984 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 màu vàng nhạt của anh Nguyễn Văn L sinh năm 1982 đều là người ở xã NT, huyện NT, tỉnh NĐ là công nhân đang ngủ tại xưởng. Sau khi lấy được 03 điện thoại trên M mang về nhà cất dấu. Các bị hại đã làm đơn trình báo, Công an đồn Liên Hồng đã thu giữ 03 chiếc điện thoại trên tại nhà ở của Vũ Đình M.

Vụ thứ hai: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 11/11/2018, M đi bộ từ nhà đến xưởng gỗ của anh Nguyễn Thanh Đ sinh năm 1987 (địa chỉ: Cụm 3, xã LT, huyện ĐP, Hà Nội) thấy cổng không khóa, đèn bên trong vẫn sáng, qua theo dõi thấy mọi người ngủ hết, M lén lút vào lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen và 01 điện thoại hiệu Huawei màu vàng của anh Hoàng Văn L sinh năm 1983 để ở đầu giường và lấy 01 điện thoại di động hiệu Coolpad màu vàng nhạt của chị Đỗ Thị X sinh năm 1989 đều ở huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái (là công nhân làm tại xưởng gỗ). Sau khi lấy được 03 điện thoại trên, M mang điện thoại Oppo và điện thoại Coolpad đến cửa hàng điện thoại Hùng Mobile ở cụm 11, xã Tl, huyện ĐP bán cho anh Nguyễn Bá T sinh năm 1986 (chủ cửa hàng) được 1.500.000 đồng, chiếc điện thoại Huawei M cất ở nhà. Các bị hại đã làm đơn trình báo chính quyền địa phương. Ngày 14/11/2018, công an huyện Đan Phượng đã thu giữ của anh Nguyễn Bá T 01 điện thoại Oppo màu đen và điện thoại Coolpad màu vàng nhạt; Thu giữ của Vũ Đình M 01 chiếc điện thoại Huawei màu vàng.

Vụ thứ 3: Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 22/4/2019, với mục đích đi trộm cắp. M đi từ thị trân Trôi, huyện Hoài Đức về đến công trình xây dựng trường tiểu học Tân Lập thuộc cụm 6, xã Tl, huyện ĐP. Sau khi quan sát M vào phòng ngủ của công nhân lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J6 màu xanh tím than của anh Lò Văn H sinh năm 1990 ở xã Trung Đông, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu đang để ở đầu giường thì bị bắt quả tang thu giữ vật chứng.

Ngày 26/10/2018, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đan Phượng đã ra quyết định yêu cầu định giá tài sản đối với 03 chiếc điện thoại thu giữ tại nhà Vũ Đình M. Tại kết luận định giá tài sản số 53/KL-HĐ ngày 30/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đan Phượng, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Pro màu vàng hồng đã qua sử dụng giá trị 4.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu vàng nhạt giá trị 2.500.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 màu vàng nhạt giá trị 1.600.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 8.100.000 đồng.

Ngày 22/11/2018, cơ quan CSĐT Công an huyện Đan Phượng đã ra quyết định yêu cầu định giá tài sản đối với 03 chiếc điện thoại đã thu giữ của anh Nguyễn Bá T và Vũ Đình M. Tại kết luận định giá tài sản số 59/KL-HĐ ngày 05/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đan Phượng, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen đã qua sử dụng giá trị 1.700.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huawei màu vàng (màn hình bị vỡ) giá trị 2.700.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Coolpad màu vàng nhạt giá trị 200.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 4.600.000 đồng.

Ngày 23/4/2019, cơ quan CSĐT Công an huyện Đan Phượng đã ra quyết định yêu cầu định gía tài sản đối với 01 chiếc điện thoại đã thu giữ của Vũ Đình M. Tại kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐ ngày 24/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đan Phượng, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J6 màu xanh tím than đã qua sử dụng giá trị 2.900.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản mà Vũ Đĩnh M trộm cắp là: 15.600.000 đồng (mười lăm triệu, sáu trăm ngàn đồng).

Cơ quan CSĐT Công an huyện Đan Phượng đã thu hồi lại toàn bộ tài sản và ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp, các bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu, đề nghị gì.

Ngày 10/01/2019, cơ quan CSĐT Công an huyện Đan Phượng đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 34 để xác định khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của bị can Vũ Đình M.

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 102/KLGĐ ngày 17/4/2019 của Viện pháp y tâm thần Trung ương-Bộ y tế, kết luận: “Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định đối tượng Vũ Đình M bị chậm phát triển tâm thần nhẹ. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm1992 bệnh có mã số F70. Đối tượng hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”

Tại cơ quan điều tra, Vũ Đình M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Đối với Nguyễn Bá T là người mua 02 chiếc điện thoại của Vũ Đình M, quá trình điều tra xác định anh Thụ không biết 02 chiếc điện thoại đó là do phạm tội mà có nên Cơ quan CSĐT không xử lý đối đối với Nguyễn Bá T.

Bản cáo trạng số 57/CT-VKS ngày 03 tháng 7 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội truy tố Vũ Đình M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

* Bị cáo Vũ Đình M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên và đề nghị HĐXX xem xét hoàn cảnh gia đình để giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên cáo trạng và quyết định đã truy tố, sau khi đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, xem xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và đề nghị HĐXX:

Áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS; điểm q, s khoản 1 Điều 51 BLHS; điểm h, g khoản 1 Điều 52 BLHS. Xử phạt bị cáo Vũ Đình M từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo không có thu nhập ổn định, điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 BLHS.

* Người bào chữa cho bị cáo Vũ Đình M tại phiên toà nhất trí với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét toàn diện về nhân thân, điều kiện hoàn cảnh gia đình và để áp dụng hình phạt và cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Đan Phượng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật.

. Hành vi của bị cáo đã được chứng minh bằng lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay; bằng lời khai của người bị hại, những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã thu giữ trong quá trình điều tra được lưu trong hồ sơ vụ án, thấy có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2018 đến tháng 4/2019, Vũ Đình M đã 03 lần lén lút chiếm đoạt 07 chiếc điện thoại di động của 06 người bị hại, cụ thể: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Pro màu vàng hồng của anh Đỗ Việt C giá trị 4.000.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu vàng nhạt của anh Nguyễn Văn L giá trị 2.500.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 màu vàng nhạt của anh Nguyễn Văn L giá trị 1.600.000 đồng, 01điện thoại di động nhãn hiệu Coolpad màu vàng nhạt của chị Đỗ Thị X giá trị 200.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen giá trị 1.700.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huawei màu vàng giá trị 2.700.000 đồng của anh Hoàng Văn L, 01 điện thoại Samsung Galaxy J6 màu xanh tím than của anh Lò Văn H giá trị 2.900.000 đồng. Tổng trị giá tài sản mà Vũ Đình M chiếm đoạt là 15.600.000 đồng (Mười lăm triệu sáu trăm ngàn đồng). Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo thuộc trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như cáo trạng và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, đồng thời còn xâm hại đến trật tự công cộng, xã hội và gây bất bình trong quần cúng nhân dân.

Tuy bị cáo là người có nhận thức bị hạn chế (theo kết luận của Viện giám định pháp y tâm thần Trung Ương); Nhưng bị cáo vẫn biết hành vi trộm cắp là vi phạm pháp luật ở chỗ thường xuyên lén lút, lợi dụng đêm tối, đến những nơi thường hay sơ hở, chọn những nơi sản xuất có nhiều công nhân ban ngày lao động vất vả, đêm ngủ say để trộm cắp những tài sản có giá trị, biết đem đến nơi tiêu thụ là những cửa hàng bán điện thoại để tiêu thụ lấy tiền tiêu sài, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình và cần phải xử lý nghiêm để có tác dụng ngăn ngừa giáo dục, đáp ứng được cuộc đấu tranh loại tội phạm mà Đảng và Nhà nước đề ra. Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, như vậy vừa có tác dụng răn đe giáo dục vừa thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Việt Nam.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội nhiều lần và phạm tội khi đang có tiền án thuộc trường hợp tái phạm nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo qui định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm q, s khoản 1 Điều 51 BLHS, đó là thành khẩn khai báo và bị cáo phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức.

Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh khó khăn, không có nghề nghiệp nên HĐXX không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Tài sản trôm cắp đã được thu hồi, người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét; Đối với 02 chiếc điện thoại di động mà Cơ quan CSĐT thu giữ của Nguyễn Bá T, quá trình điều tra xác định do biết là tài sản trộm cắp nên anh Thụ đã tự nguyện nộp lại cho Cơ quan CSĐT và không yêu cầu Vũ Đình M bồi thường; Để đảm bảo quyền lợi nên Tòa án đưa anh Thụ vào tham gia phiên tòa với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên quá trình triệu tập anh Thụ vắng mặt không có lý do, vì vậy để đảm bảo quyền lợi anh Thụ có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khi có yêu cầu.

Về án phí: Bị cáo Vũ Đình M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm q, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015;

- Xử phạt bị cáo Vũ Đình M: 17 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2019.

- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Vũ Đình M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo qui định của pháp luật. N¬i nhËn:

Cỡ chữ