vanban.org

Bản án 59/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 26/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Cao C và đồng phạm phạm tội Gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2019/HS-ST
Ngày 26-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễ n Thị Thanh Hường.

Các Hội thẩm nhân dân : Ông Nguyễ n Bá Sử u và bà Lò Thị Le.

- Thư ký phiên tòa: ông Hoàng Văn Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyệ n Yên Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễ n Hữ u Đôn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 29/2019/TLST-HS ngày 08/7/2019 theo Quyế t đị nh đưa vụ á n ra xé t xử số : 72/2019/QĐXXST- HS ngà y 15/11/2019 đối với cá c bị cáo:

1. Nguyễ n Cao C , sinh năm 1981 tại huyện Diễn Châu , tỉnh Nghệ An . Nơi đăng ký HKTT: Bản T, xã P, huyệ n Y, tỉnh Sơn La; trình độ văn hoá (học vấn) lớp: 12/12; nghề nghiệp: Lao độ ng tự do ; dân tộ c : Kinh; giớ i tí nh : Nam; tôn giá o : Không; quố c tị ch: Việ t Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1949 và con bà Đặng Thị S, sinh năm 1951, có vợ là Nguyễn Thị C , sinh năm 1985 và 02 con, con lớ n sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2013. Hiệ n bố , mẹ, vợ , con cù ng trú tạ i : Bản T, xã P, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Tiề n á n, tiề n sự : Không. Bị cáo không bị tạm giữ , tạm giam, được á p dụ ng biện pháp cấm đi khỏ i nơi cư trú từ ngà y 09/8/2018 cho đế n nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Trầ n Văn C, sinh năm 1982 tại huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Nơi đăng ký HKTT: Bản T, xã P, huyệ n Y, tỉnh Sơn La; trình độ văn hoá (học vấn) lớp: 12/12; nghề nghiệp: Lao độ ng tự do; dân tộ c: Kinh; giớ i tí nh: Nam; tôn giá o: Không; quố c tịch: Việ t Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Trầ n Văn C , sinh năm 1947 và con bà Hoàng Thị S , sinh năm 1950, có vợ là Lò Thị T , sinh năm 1984 và 02 con, con lớ n sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2008. Hiệ n bố , mẹ, vợ , con bị cá o cùng trú tại : Bản T, xã P , huyệ n Y, tỉnh Sơn La . Tiề n á n , tiề n sự : Không. Nhân thân: Ngày 23/12/2014 bị Toà án nhân dân huyện Yên Châu xử phạt 10.000.000 đồng về tộ i Đá nh bạ c theo bả n á n số 07/2014/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong bản án và đã được xoá á n tí ch . Bị cáo không bị tạm giữ , tạm giam, được á p dụ ng biện pháp cấ m đi khỏ i nơi cư trú từ ngà y 09/8/2018 cho đế n nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Lò Văn C, sinh năm 1986 tại huyện Yên Châu , tỉnh Sơn La. Nơi đăng ký HKTT: Bản T, xã P, huyệ n Y, tỉnh Sơn La; trình độ văn hoá (học vấn) lớp: 07/12; nghề nghiệp: Trồ ng trọ t; dân tộ c: Thái; giớ i tí nh: Nam; tôn giá o: Không; quố c tịch: Việ t Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Lò Văn Chinh , sinh năm 1958 và con bà Nguyễ n Thị Thế , sinh năm 1960, có vợ là Nguyễ n Thị Lan, sinh năm 1990 và 02 con, con lớ n sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2012. Hiệ n bố , mẹ, vợ con bị cáo cùng trú tại : Bản T, xã P, huyệ n Y, tỉnh Sơn La . Tiề n á n, tiề n sự : Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, được á p dụ ng biện pháp cấ m đi khỏ i nơi cư trú từ ngày 09/8/2018 cho đế n nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Ngườ i bà o chữ a cho cá c bị cá o: Ông Vũ Tiến V, sinh ngà y 11/9/1976. Luậ t sư - Công ty Luậ t B thuộ c Đoà n luậ t sư Thành phố Hà Nộ i . Đị a chỉ : Số 41 T, phườ ng N, Quậ n Đ, Thành phố Hà Nộ i. Có mặt.

- Ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan:

- Nguyễ n Xuân V , sinh năm 1982. Trú tại: Bản T, xã P, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Tòng Văn V, sinh năm 1991. Trú tại: Bản H, xã M, huyệ n S, tỉnh Sơn Sơn La. Có mặt.

- Đà o Văn T , sinh năm 1990. Trú tại: Bản C, xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La . Vắng mặt có lý do.

- Ngô Thị L , sinh năm 1991. Trú tại: Bản K, xã P, huyệ n Y, tỉnh Sơn La . Vắng mặt có lý do.

- Phùng Thị L, sinh năm 1977. Trú tại: Bản K, xã P, huyệ n Yên Châu , tỉnh Sơn La. Vắng mặt có lý do.

- Vũ Văn Q1, sinh năm 1982. Trú tại: Bản H, xã P, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Có mặ t.

- Vũ Văn Q2, sinh năm 1976. Trú tại: Bản H, xã P, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Có mặ t.

- Bùi Thị Tú A, sinh năm 1987. Trú tại: Bản T, xã P, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Lê Văn T, sinh năm 1974. Trú tại: Bản K , xã P , huyệ n Y , tỉnh Sơn La . Vắ ng mặ t có lý do.

- Phan Hồ ng S, sinh năm 1985. Trú tại: Bản K, xã P, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Vắ ng mặ t có lý do.

- Trầ n Thị L , sinh năm 1965. Trú tại: Bản K, xã P, huyệ n Y, tỉnh Sơn La . Vắ ng mặ t có lý do.

- Đỗ Thị M, sinh năm 1969. Trú tại: Bản H, xã P, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Có mặ t.

- Nguyễ n Văn M , sinh năm 1973. Trú tại: Bản M, xã L, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Vắ ng mặ t có lý do.

- Nguyễ n Thị K , sinh năm 1974. Trú tại: Bản Mo, xã L, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Vắ ng mặ t có lý do.

- Vũ Thị T , sinh năm 1966. Trú tại: Bản K , xã P , huyệ n Y , tỉnh Sơn La . Vắ ng mặ t có lý do.

- Bàn Văn T, sinh năm 1986. Trú tại: Bản C, xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La . Vắ ng mặ t có lý do.

- Nguyễ n Thị Đ, sinh năm 1989. Trú tại: Bản T, xã P, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Trầ n Thị Thu Y, sinh năm 1993. Trú tại: Bản Na, xã C, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Vắ ng mặ t có lý do.

- Trầ n Văn C, sinh năm 1980. Trú tại: Bản T, xã P, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Có mặ t.

- Trầ n Đứ c S, sinh năm 1986. Trú tại: Bản T, xã P, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Có mặ t.

- Trầ n Văn Q , sinh năm 1984. Trú tại: Bản C, xã P, huyệ n Y, tỉnh Sơn La . Vắ ng mặ t có lý do.

- Hoàng Văn C, sinh năm 1978. Trú tại: Bản A, xã P, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Vắ ng mặ t có lý do.

- Hoàng Văn T, sinh năm 1978. Trú tại: Bản Na, xã C, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Vắ ng mặ t có lý do.

- Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1985, trú tại: Bản T, xã P, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1990, trú tại: Bản T, xã P, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Ngườ i là m chứ ng:

- Lò Văn C , sinh năm 1992. Trú tại: Bản Q, xã Y, huyệ n Y , tỉnh Sơn La . Vắ ng mặ t.

- Mai Thà nh L, sinh năm 1995. Trú tại: Bản T, xã P, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Vắ ng mặ t.

- Vũ Văn T , sinh năm 1996. Trú tại: Bản T , xã P , huyệ n Y , tỉnh Sơn La . Vắ ng mặ t.

- Hoàng Viết L, sinh năm 1991. Trú tại: Bản T, xã P, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Vắ ng mặ t.

- Vì Thị T, sinh năm 1990. Trú tại: Bản K, xã P, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Vắ ng mặ t.

- Nguyễ n Văn T, sinh năm 1982. Trú tại: Bản H, xã P, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Vắ ng mặ t.

- Tòng Văn C, sinh năm 1995. Trú tại: Bản Q, xã Y, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Vắ ng mặ t.

- Quàng Văn S, sinh năm 1982. Trú tại: Bản T, xã C, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Vắ ng mặ t.

- Bạc Cầ m Q, sinh năm 1994. Trú tại: Bản Q, xã N, huyệ n S, tỉnh Sơn La . Vắ ng mặ t.

- Lò Văn T 1, sinh năm 1988. Trú tại: Bản Q, xã Y, huyệ n Y, tỉnh Sơn La . Vắ ng mặ t.

- Lò Văn T 2, sinh năm 1995. Trú tại: Bản Q, xã Y, huyệ n Y, tỉnh Sơn La . Vắ ng mặ t.

- Lò Văn T 3, sinh năm 1997. Trú tại: Bản Q, xã Y, huyệ n Y, tỉnh Sơn La . Vắ ng mặ t.

- Lò Văn H , sinh năm 1986. Trú tại: Bản Q, xã Y, huyệ n Y, tỉnh Sơn La . Vắ ng mặ t.

- Nguyễ n Tiế n D, sinh năm 1969. Trú tại: Bản T, xã P, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Vắ ng mặ t.

- Phan Đì nh S, sinh năm 1974. Trú tại: Bản T, xã P, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Vắ ng mặ t.

- Vì Văn K, sinh năm 1980. Trú tại: Bản A, xã P, huyệ n Yên Châu, tỉnh Sơn La. Vắ ng mặ t.

- Đỗ Văn Q , sinh năm 1978. Trú tại: Bản K, xã P, huyệ n Y , tỉnh Sơn La . Vắ ng mặ t.

- Đặng Văn C , sinh năm 1965. Trú tại: Bản C, xã P, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Vắ ng mặ t.

NỘ I DUNG VỤ Á N:

Theo cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ á n và diễ n biế n tạ i phiên toà , nộ i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 31 tháng 5 năm 2018 Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La nhận được đơn đề nghị của Nguyễn Xuân V, sinh năm: 1982 trú tại: Bản T, xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La với nội dung: Khoảng 19 giờ, ngày 31 tháng 5 năm 2018, Nguyễn Cao C - Sinh năm: 1981, Trần Văn C - Sinh năm: 1982. Cùng trú tại: Bản T, xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La và Lò Văn C - Sinh năm: 1986 - Trú tại: Bản T, xã P, huyện Y sử dụng ô tô, xe máy chặn xe ô tô đầu kéo của Tòng Văn V - Sinh năm: 1991 - Trú tại: Bản H, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La (là người thu mua mận hậu của gia đình Nguyễn Xuân V) và xe ô tô đầu kéo của Quàng Văn S - Sinh năm: 1982 - Trú tại: Bản T, xã P, huyện Yên Châu (là người chở thuê cho Nguyễn Xuân V). Việc chặn xe gây tắc đường, cản trở giao thông đoạn đường Quốc lộ 6C, gây mất an ninh trật tự. Đề nghị Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu giải quyết.

Khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 01 tháng 6 năm 2018 Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu có mặt tại Km 33, Quốc lộ 6C thuộc địa phận Bản T, xã P, huyện Y. Tại hiện trường có hai xe ô tô đầu kéo BKS: 26 C - 034.12 kéo theo rơ mooc BKS: 26 R - 000.90 và BKS: 26 C - 075.48 kéo theo rơ mooc BKS: 26 R- 005.03 đang dừng đỗ chắn ngang đường Quốc lộ 6C làm giao thông bị ùn tắc và các phương tiện không đi lại qua được. Tổ công tác Công an huyện Yên Châu kiểm tra, phát hiện phía trước xe ô tô đầu kéo BKS: 26 C- 034.12 có một xe máy nhãn hiệu HONDA- Wave, màu sơn đen, BKS: 30 L5- 9087 đang dựng đỗ sát trước đầu xe, chặn không cho xe đầu kéo di chuyển. Tổ công tác hỏi những người có mặt tại hiện trường: Chiếc xe máy là của ai? Trần Văn C đứng ra nhận là chủ sở hữu của chiếc xe máy BKS: 30 L5- 9087 là người trực tiếp dắt chiếc xe máy chặn đầu xe ô tô. Tổ công tác yêu cầu Trần Văn C dắt chiếc xe máy ra vị trí khác để hai ô tô đầu kéo có thể di chuyển vào lề đường đảm bảo cho giao thông được thông suốt nhưng Trần Văn C không chấp hành. Tổ công tác Công an huyện Yên Châu dắt chiếc xe máy ra vị trí khác thì Trần Văn C ra ngăn cản, đồng thời có rất đông người náo loạn, mất trật tự tại khu vực hiện trường. Thấy hành vi của Trần Văn C gây cản trở, ách tắc giao thông ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự công cộng, tổ công tác đã tiến hành bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Văn C về hành vi gây rối trật tự công cộng.

Vật chứng thu giữ tại hiện trường: 01 xe máy nhãn hiệu HONDA- Wave, sơn màu đen, BKS: 30 L5- 9087, xe không có cánh yếm hai bên, xe cũ đã qua sử dụng thu giữ của Trần Văn C.

Ngày 05 tháng 12 năm 2018, Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu tiến hành thu giữ của Trần Văn C - Sinh năm: 1980 - Trú tại: Bản T, xã P, huyện Y 01 xe ô tô nhãn hiệu Ford Everest, sơn màu đen, BKS: 30 A - 169.28 xe cũ đã qua sử dụng là phương tiện Nguyễn Cao C sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

Ngày 04 tháng 01 năm 2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu tiến hành thu giữ của Nguyễn Cao C 01 xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, sơn màu vàng cát, BKS: 26 C - 055.39 xe cũ đã qua sử dụng là phương tiện Nguyễn Cao C sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

Ngày 24 tháng 01 năm 2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu tiến hành thu giữ của Hoàng Văn Chung - Sinh năm: 1978 - Trú tại: Bản Ái 2, xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu 01 xe ô tô tải thùng nhãn hiệu HUYNDAI, BKS: 18 C - 039.76 xe cũ đã qua sử dụng là phương tiện mà Lò Văn C sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

Ngày 01 tháng 6 năm 2018, Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu tiến hành cân tịnh xác định khối lượng, thiệt hại 14 điểm thu mận cho Nguyễn Xuân V đã đóng bao chờ bốc lên xe là: 65.551.000 kg. Trong đó khối lượng mận bị hỏng đổ đi là: 20.199.000 kg và khối lượng mận đã bán đi với giá thấp hơn là: 45.352.000 kg. Ngày 02 tháng 6 năm 2018, Nguyễn Xuân V và Tòng Văn Việt vận chuyển số mận đã thu được bằng hai xe đầu kéo BKS: 26 C- 034.12 và BKS: 26 C- 075.48 đến cửa khẩu Tân Thanh thuộc huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn bán cho Lý Lợi Q - Sinh năm: 1980 - Trú tại: Nam Đại lộ số 7, thị xã Bằng Tường, tỉnh Quảng Tây, nước CHDCND Trung Hoa (chủ mua mận) nhưng mận bị thối, hư hỏng, chảy nước phải đổ đi khối lượng mận là: 52.630.000 kg.

Ngày 19 tháng 10 năm 2018, Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Châu tiến hành định giá tài sản: 72.829.000 kg quả mận hậu xanh, quả mận còn tươi, chưa bị thối, hư hỏng tại thời điểm ngày 31 tháng 5 năm 2018 trên địa bàn huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.

Tại bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 49/HĐĐG ngày 19 tháng 10 năm 2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Châu kết luận: Tại thời điểm ngày 31 tháng 5 năm 2018 trên địa bàn huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La 01 kg mận hậu còn tươi, chưa bị thối, hư hỏng có giá 3.400 đồng/kg, 72.829.000 kg quả mận xanh, quả mận còn tươi, chưa bị thối, hư hỏng có giá trị là: 247.618.600 đồng .

Tại bản cáo trạng số : 08/CT- VKSYC ngà y 11 tháng 3 năm 2019 của Viện Kiể m sá t nhân dân huyệ n Yên Châu , tỉnh Sơn La đã truy tố Nguyễ n Cao C , Trầ n Văn C và Lò Văn C về tộ i : Gây rố i trậ t tự công cộ ng , theo khoả n 1 Điề u 318 BLHS.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu tham gia gia phiên tòa sau khi trình bày lời luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử : Tuyên bố bị cáo Nguyễ n Cao C, Trầ n Văn C và Lò Văn C phạm tộ i: Gây rố i trậ t tự công. Đề nghị HĐXX á p dụ ng:

Về hì nh phạ t:

- Đối với Nguyễn Cao C: Áp dụng khoản 1 Điều 318 BLHS; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 65 BLHS đề nghị mức hình phạt từ 12 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về Tội gây rối trật tự công cộng. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 36 tháng.

- Đối với Trần Văn C: Áp dụng khoản 1 Điều 318 BLHS; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 65 BLHS đề nghị mức hình phạt từ 12 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về Tội gây rối trật tự công cộng. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 36 tháng.

- Đối với Lò Văn C: Áp dụng khoản 1 Điều 318 BLHS; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 65 BLHS đề nghị mức hình phạt từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về Tội gây rối trật tự công cộng. Thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.

Giao các bị cáo cho UBND xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La cải tạo, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Về vậ t chứng vụ á n : Đề nghị H ội đồng xét xử căn cứ và o khoản 2 Điều 47 BLHS và khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS:

+ Trả cho anh Trần Đức S 01 xe máy nhãn hiệu HONDA - Wave, sơn màu đen, BKS: 30 L5- 9087, không có cánh yếm hai bên, xe cũ đã qua sử dụng.

+ Trả cho anh Trần Văn C: 01 xe ô tô Ford Everest, sơn màu đen, BKS: 30 A- 169.28, xe cũ đã qua sử dụng.

+ Trả cho bị cáo Nguyễn Cao C: 01 xe ô tô Ford Ranger, sơn màu ghi vàng, BKS: 26 C- 055.39, xe cũ đã qua sử dụng.

+ Trả cho anh Hoàng Văn C: 01 xe ô tô tải nhãn hiệu HUYNDAI, loại xe tải thùng có mui phủ, sơn màu xanh, BKS: 18 C- 039.76, xe cũ đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự : Không đặ t ra giả i quyế t trong vụ án vì các bị cáo đã thỏa thuậ n bồ i thườ ng thiệ t hạ i cho những ngườ i có quyề n lợ i , nghĩa vụ liên quan và những người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án: buộc mỗi bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Ngườ i bà o chữ a cho cá c bị cá o Nguyễ n Cao C , Trầ n Văn C và Lò Văn C trình bày: Đồng ý tội danh, khung truy tố củ a Việ n kiể m sá t đố i vớ i cá c bị cá o. Các bị cáo thà nh khẩ n khai bá o, ăn năn hố i cả i, thừ a nhậ n hà nh vi phạ m tộ i củ a bả n thân và tự nguyệ n bồ i thườ ng thiệ t hạ i . Bị cáo Lò Văn C là người dân tộc thiểu số trình độ học vấn còn hạn chế, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, được chính quyền địa phương có đơn xin giảm nhẹ hình phạt là những tình tiết được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Về phầ n dân sự : Do cá c bị cá o và những ngườ i có quyề n lợ i , nghĩa vụ l iên quan trong vụ á n đã thỏa thuậ n bồ i thườ ng xong cho nhau về giá trị thiệ t hạ i . Nên đề nghị HĐXX chấp nhận sự thỏa thuậ n nà y.

Ý kiến của người bào chữa cho các bị cáo đề nghị HĐXX xử phạt các bị cáo mức hình phạt từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.

Trong lời nói sau cùng các bị cáo tỏ thái độ ăn năn về hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin cải tạo tại địa phương.

NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒA ÁN:

Trên cơ sở nộ i dung vụ á n , căn cứ và o cá c tà i liệ u trong hồ sơ vụ á n đã đượ c thẩ m tra, xét hỏi, tranh luậ n tạ i phiên tòa. Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n đị nh như sau:

[1] Về hà nh vi , quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan cả nh sá t điề u tra Công an

huyệ n Yên Châu, Điề u tra viên, Việ n kiể m sá t nhân dân huyệ n Yên Châu, Kiể m sá t viên trong quá trì nh điề u tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền , trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự . Quá trình điề u tra và tạ i phiên tòa hôm nay cá c bị cá o không có khiế u nạ i về hà nh vi , quyế t đị nh tố tụ ng củ a cơ quan tiế n hành tố tụng, ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng đề u hợ p phá p.

[2] Về hành vi của các bị cáo nhận thấy: Khoảng 19 giờ ngày 31 tháng 5 năm 2018 đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 01 tháng 6 năm 2018, Nguyễn Cao C, Trần Văn C và Lò Văn C đã có hành vi điều khiển xe ô tô BKS: 26 C - 055.39, BKS: 30 A - 169.28, BKS: 18 C - 039.76, xe ô tô U Oát không có biển kiểm soát và xe máy BKS: 30 L5 - 9087 chặn xe ô tô đầu kéo BKS: 26 C - 034.12 kéo theo rơ mooc BKS: 26 R - 000.90 của Tòng Văn Việt và xe ô tô đầu kéo BKS: 26 C - 075.48 kéo theo rơ mooc BKS: 26 R - 005.03 của Quàng Văn Sáng đến chở mận tại gia đình Nguyễn Xuân V ép phải mua mận và thanh toán tiền. Hành vi của Nguyễn Cao C, Trần Văn C và Lò Văn C đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự nơi công cộng do có nhiều người dân hiếu kì xung quanh đến xem (khoảng 40 đến 50 người) bàn tán, nói chuyện và gây ách tắc giao thông tuyến Quốc lộ 6C thuộc Bản T, xã P, huyện Y từ khoảng 23 giờ ngày 31 tháng 5 năm 2018 đến 01 giờ 30 phút ngày 01 tháng 6 năm 2018, gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản cho gia đình Nguyễn Xuân V, Tòng Văn V và các đại lý thu mua mận của Nguyễn Xuân V số tiền là: 247.618.600 đồng.

Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trậ t tự công cộ ng, làm ảnh hưở ng đế n tuyế n giao thông có QL 6C đi qua, gây nên sự ná o loạ n. Đồng thời, gây kích động, hiế u kỳ , tậ p trung là m cho quầ n chú ng nhân dân hoang mang , khiế n dư luậ n nhân dân bấ t bì nh, lên á n, ảnh hưởng đến hoạ t độ ng củ a mọ i ngườ i ở nơi công cộ ng, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh , trậ t tự , an toà n xã hộ i . Việ n kiể m sá t nhân dân huyệ n Yên Châu truy tố cá c bị cá o ra trướ c Tòa án nhân dân huyện Yên Châu theo tộ i danh và điề u khoả n trong Bộ luậ t hì nh sự như trên là có căn cứ

, đú ng ngườ i, đú ng tộ i, đú ng quy đị nh củ a phá p luậ t.

Vụ án có nhiều bị cáo tham gia cùng nhau tiếp nhận ý chí và đều thực hiện

tộ i phạ m, nhưng thuộ c trườ ng hợ p đồ ng phạ m giả n đơn, mang tí nh chấ t bộ t phá t , không có tổ chứ c, không có sự chuẩ n bị bà n bạ c từ trướ c và không có sự phân công đố i vớ i từ ng bị cá o , hành vi của các bị cáo mang tính tự phát , không có sự câu kế t chặ t chẽ . Các bị cáo đều trực tiếp tham gia thực hiện hành vi , cùng tiếp nhận ý chí của nhau, mỗ i bị cá o tham gia tí ch cự c ở từng giai đoạ n khá c nhau

. Vì vậy H ội đồng xét xử cầ n đá nh giá tí nh chấ t vai trò củ a từ ng bị cá o để quyế t đị nh hì nh p hạt cho tương xứ ng vớ i hà nh vi.

Đối với bị cáo Nguyễ n Cao C: Bị cáo đã tham gia tích cực cho hành vi gây rố i, là người đầu tiên điều khiển xe ôtô BKS : 26C - 055.39, xe ôtô U oá t , xe ôtô BKS: 30A - 169.28 chặ n đầ u và đuôi xe ôtô đầ u ké o BKS: 26C - 034.12 không cho xe đầ u ké o di chuyể n . Sau đó Nguyễn Cao C đã gọi điện thoại cho ai đó và nói trước mọi người: Mày mang con xe tải đến đây. Khoảng 5 phút sau thì Lò Văn C đến, là người thứ hai điều khiển xe ô tô BKS: 18C - 039.76 chặn đầu xe ô tô đầu kéo BKS: 26C - 034.12 của Tòng Văn Việt không cho di chuyển dừng đỗ giữa đường gây ách tắc giao thông.

Đối với Trần Văn C là người xi nhan cho Lò Văn C điều khiển xe ô tô BKS: 18C - 039.76 chặn đầu xe ô tô đầu kéo BKS: 26 C - 034.12 và là người cuối cùng sử dụng chiếc xe máy BKS: 30L5 - 9087 chặn đầu xe đầu kéo BKS: 26C- 034.12 của Tòng Văn Việt làm cho xe ô tô đầu kéo BKS: 26 C- 034.12 và ô tô đầu kéo BKS: 26C- 075.48 không di chuyển dừng đỗ giữa đường Quốc lộ 6C gây ác tắc giao thông. Về nhân thân bị cá o Chiế n đã từ ng bị Tòa án nhân dân huyện Yên Châu xử phạ t 10.000.000 đồng về tộ i Đá nh bạ c theo bả n á n số

07/2014/HSST ngày 23/12/2014. Bị cáo đã chấp hành xong bản án và đã được xoá á n tí ch.

[3] Về tì nh tiế t tăng nặ ng trá ch nhiệ m hì nh sự đố i vớ i cá c bị cá o:

Các bị cáo Nguyễ n Cao C, Trầ n Văn C và Lò Văn C không có tì nh tiế t tăng nặ ng trách nhiệm hình sự quy đị nh tạ i Điề u 52 Bộ luật hình sự.

[4] Về tì nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Các bị cáo phạm tội lần đầu , thuộ c trườ ng hợ p í t nghiêm trọ ng , ăn năn hối cải thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, tự nguyệ n bồ i thườ ng thiệ t hạ i, bị cáo Nguyễn Cao C có bố đẻ là ông Nguyễn Thanh Đ là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng kỉ niệm chương chiến sĩ cách mạng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến thiệt hại về tài sản có đơn giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và chính quyền địa phương có đơn xin xác nhận giảm nhẹ hình phạt các bị cáo , quy đị nh tạ i điể m b, i, s khoả n 1, 2 Điề u 51 Bộ luậ t hì nh sự .

[5] Về nhân thân củ a cá c bị cá o:

Bị cáo Trầ n Văn C đã có tiền án về tội Đánh bạc mặc dù đã được xóa án tích xong xét về nhân thân là nhân thân xấu . Đối vớ i cá c bị cá o Nguyễ n Cao C và Lò Văn C đều không có tiền án, tiề n sự , xác định các bị cáo có nhân thân tốt.

Trên cơ sở xem xé t tí nh chấ t củ a vụ á n và hậ u quả củ a hà nh vi phạ m tộ i ; xét nhân thân và cá c tì nh tiế t tăng nặ ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử thấ y rằ ng cầ n phả i có mứ c hì nh phạ t tương xứ ng vớ i hà nh vi phạ m tộ i và không nhất thiết phải cá ch ly cá c bị cá o ra khỏ i đờ i số ng xã hộ i mà để các bị cáo tự cải tạo giáo dục bản thân nhằ m răn đe , giáo dục các bị cáo để các bị cáo tu dưỡng phấn đấ u trở thà nh công dân tố t biế t tôn trọ ng phá p luậ t , số ng có í ch cho gia đì nh và xã hộ i phù hợp với quan điểm của v ị đại diện Viện kiểm sát cũng như người bào chữa cho các bị cáo tạ i phiên tòa.

[5] Về trá ch nhiệ m dân sự :

Trướ c khi Tòa án mở phiên toà cá c bị cá o đã thỏa thuậ n bồ i thườ ng thiệ t hạ i cho anh Nguyễ n Xuân Việ t và anh Tò ng Văn Việ t xong , tại p hiên tòa hai anh không yêu cầ u Tòa án giải quyết phần dân sự.

Về trá ch nhiệ m dân sự củ a anh Nguyễ n Xuân Việ t vớ i 14 điể m thu mua mậ n trong ngày 31/5/2018 cũng đã thỏa thuậ n xong, không yêu cầ u giả i quyế t trong vụ án này.

Vì vậy Hộ i đồ ng xé t xử không đặ t ra giả i quyế t trong vụ án vì các bị cáo đã thỏa thuậ n bồ i thườ ng thiệ t hạ i cho ngườ i có quyề n lợ i

, nghĩa vụ liên quan và những ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường gì thêm.

[6] Về vậ t chứ ng vụ á n : Trong quá trì nh điề u tra , cơ quan CSĐT Công an huyệ n Yên Châu đã thu giữ :

- 01 xe máy nhãn hiệu HONDA- Wave, sơn màu đen, BKS: 30 L5- 9087, không có cánh yếm hai bên, xe cũ đã qua sử dụng.

- 01 xe ô tô Ford Everest, sơn màu đen, BKS: 30 A- 169.28, xe cũ đã qua sử dụng.

- 01 xe ô tô Ford Ranger, sơn màu ghi vàng, BKS: 26 C- 055.39, xe cũ đã qua sử dụng.

- 01 xe ô tô tải nhãn hiệu HUYNDAI, loại xe tải thùng có mui phủ, sơn màu xanh, BKS: 18 C- 039.76, xe cũ đã qua sử dụng.

Qua quá trì nh điề u tra và qua thẩ m vấ n tạ i phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấ y:

Đối với xe ô tô Ford Ranger, sơn màu ghi vàng, BKS: 26 C- 055.39, xe cũ đã qua sử dụng. Chủ sở hữu là Nguyễ n Cao C, Cườ ng điề u khiể n chiế c xe nà y lù i sá t vào đầu xe đ ầu kéo của anh Tòng Văn V , mục đí ch không cho xe củ a V lưu thông đượ c. Chiế c xe nà y là tà i sả n chung củ a gia đì nh Nguyễ n Cao C, nguồ n tiề n mua xe là vay của anh Trần Văn Q ở bản C, xã P đến nay vẫn chưa thanh toá n xong nợ cho anh Q. Ngày 31/5/2018 C sử dụng chiếc xe ô tô này của gia đình vào việc vi phạm pháp luật . Chị Nguyễn Thị Ca là vợ Ngu yễn Cao C không biế t việc C sử dụng chiếc xe ô tô trên vào mục đích phạm tội.

Đối với xe ô tô tải nhãn hiệu HUYNDAI , loại xe tải thùng có mui phủ, sơn màu xanh, BKS: 18C - 039.76, xe cũ đã qua sử dụng . Chủ sở hữu hợp pháp là Lò Văn C, Chiế n điề u khiể n chiế c xe trên củ a mì nh đế n đỗ chặ n trướ c đầ u xe tả i đầ u kéo của anh Tòng Văn V nhằ m mụ c đí ch không cho xe của Tò ng Văn V và Quàng Văn S đi đượ c. Đây là tà i sả n củ a gia đì nh Lò Văn C, Nguyễn Thị L là vợ Lò Văn C không biết việc C sử dụ ng chiếc xe ô tô trên và o mục đích phạm tội.

Đối với chiếc xe ô tô Ford Everest , sơn màu đen, BKS: 30A - 169.28, xe cũ đã qua sử dụng. Chủ sở hữ u là anh Trầ n Văn C , trú tại Bản T, xã P, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Vào hồi 19 giờ ngà y 31/5/2018 anh Chinh điề u khiể n xe ô tô củ a mì nh đi từ hướ ng xã Phiêng Khoài đến và dừng đỗ bên phải đường , song song vớ i đuôi xe đầ u ké o củ a Tòng Văn V và đi có chút việ c, sau đó C đã điề u khiể n xe củ a anh C vào giữa khoảng trống cuố i xe củ a anh Tòng Văn V và đầu xe của anh Quàng Văn Sa chặn không cho xe đầu kéo của Tòng Văn V di chuyển. Việ c C tự ý điề u khiể n xe củ a anh C, anh C không hay biế t, không đượ c hỏ i han, bàn bạc gì cả.

Đối với xe máy nhãn hiệu HONDA- Wave, sơn màu đen, BKS: 30L5 - 9087, không có cánh yếm hai bên , xe cũ đã qua sử dụng . Chiế c xe nà y Trầ n Văn C dùng vào việc cản trở di chuyển của xe đầu kéo BKS : 26C - 034.12 ngày 31/5/2018. Chiế c xe má y nà y thuộ c quyề n s ở hữu của anh Trần Đức S , trú tại Bản T, xã P, huyệ n Y. Khi Trầ n Văn C dắ t chiế c xe má y nà y và o chặ n xe ô tô đ ầu kéo của anh Tòng Văn V, anh S không biế t và cũ ng không tham gia chặ n xe.

Từ nhữ ng phân tí ch nêu trên , căn cứ và o khoả n 1, điể m b khoả n 3 Điề u 106 BLTTHS. HĐXX xé t thấ y đây là nhữ ng tà i sả n hợ p phá p củ a cả gia đì nh cá c bị cáo, có công sức đóng góp của tất cả các thành viên trong gia đình

. Căn cứ và o chứ ng cứ có trong hồ sơ vụ án và qua lời trình bày của chị Nguyễ n Thị C, chị Nguyễn Thị L, anh Trần Văn C, anh Trần Đức S tại phiên tòa hôm nay, cầ n tuyên trả cho chị C , chị L, anh C nhữ ng chiế c xe ô t ô nêu trên và trả cho anh S chiế c xe mô tô nêu trên sau khi bả n á n có hiệ u lự c phá p luậ t.

Đối với chiếc xe U oát thùng màu xanh , không có BKS là phương tiện chặn đầu xe ô tô đầu kéo của Tòng Văn V. Quá trình điều tra xác định chiếc xe ô tô trên là của Trần Văn T - Sinh năm: 1978 - Trú tại: Bản N, xã C, huyện Yên Châu (chú ruột của Trần Thị Thu Y), Nguyễn Cao C đã điều khiển chiếc ô tô trên chặn đầu xe ô tô đầu kéo của Tòng Văn V. Trần Văn T không biết chiếc xe trên là phương tiện dùng để chặn xe ô tô đầu kéo của Tòng Văn V, khoảng tháng 7 năm 2018 do xe ô tô Uoát bị hư hỏng nặng nên Trần Văn T đã bán xe ô tô Uoát bằng hình thức sắt vụn cho Nguyễn Văn T- Sinh năm: 1989- Trú tại: Tiểu A, Thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La với giá 9.000.000 đồng, sau đó Tiến bán cho xưởng chế tác kim loại ở huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Vì vậy không đặt vấn đề xử lý trong vụ án.

[7] Về á n phí : Theo quy đị nh tạ i Điề u 136 BLTTHS; Điề u 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban t hườ ng vụ Quố c hộ i , các bị cáo Nguyễ n Cao C , Trầ n Văn C và Lò Văn C phải nộp tiền án phí hình sự sơ sơ thẩ m mỗ i bị cá o là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên.

QUYẾ T ĐỊ NH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 318; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 36; Điều 17; Điều 58 BLHS:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Cao C và Lò Văn C phạm tội: Gây rối trật tự công cộng.

- Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 36; Điều 17; Điều 58 BLHS:

Tuyên bố các bị cáo Trần Văn C phạm tội: Gây rối trật tự công cộng.

1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Cao C 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày UBND xã nơi bị cáo cư trú nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Xử phạt bị cáo Lò Văn C 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày UBND xã nơi bị cáo cư trú nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Xử phạt bị cáo Trần Văn C 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày UBND xã nơi bị cáo cư trú nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo Nguyễn Cao C, Trần Văn C và Lò Văn C. Giao các bị cáo cho UBND xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

2. Về trách nhiệm dân sự : Căn cứ Điều 3, Điều 584, Điều 585, Điều 589 BLDS:

Ghi nhận cá c bị cá o đã thỏa thuậ n bồ i thườ ng thiệ t hạ i cho những ngườ i có quyề n lợ i , nghĩa vụ liên quan và những người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan không yêu cầ u bồ i thườ ng gì thêm.

3. Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 BLHS và khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS:

Tuyên trả lại cho chị Nguyễn Thị C : 01 xe ô tô Ford Ranger, sơn màu ghi vàng, BKS: 26C - 055.39, xe cũ đã qua sử dụng.

Trả cho chị Nguyễn Th ị L: 01 xe ô tô tải nhãn hiệu HUYNDAI, loại xe tải thùng có mui phủ, sơn màu xanh, BKS: 18C - 039.76, xe cũ đã qua sử dụng.

Trả cho anh Trần Văn C : 01 xe ô tô Ford Everest, sơn màu đen, BKS: 30A - 169.28, xe cũ đã qua sử dụng.

Trả cho anh Trần Đức S : 01 xe máy nhãn hiệu HONDA- Wave, sơn màu đen, BKS: 30 L5- 9087, không có cánh yếm hai bên, xe cũ đã qua sử dụng.

4. Về án phí : Căn cứ khoả n 2 Điề u 136, điể m a khoả n 1 Điề u 23 của Nghị quyế t số : 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thườ ng vụ Quố c hộ i quy đị nh về mứ c thu, miễ n, giảm, thu, nộ p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Nguyễn Cao C, Trần Văn C và Lò Văn C, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm hình sự.

Các bị cáo, ngườ i có quyề n lợ i nghĩ a vụ liên quan đế n vụ án có mặt tại phiên tòa đượ c quyề n khá ng cá o bả n á n trong hạ n 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Ngườ i có quyề n lợ i , nghĩa vụ liên quan vụ án vắng mặt tại phiên tòa đượ c quyề n khá ng cá o trong thờ i hạ n 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ