vanban.org

Bản án 59/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng Tuyên án 16/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị S về tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thị S 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính kể từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo Lê Thị S cho Ủy ban nhân dân phường Thanh Bình, quận Hải Châu, thành phố Đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị S - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị S về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒA VANG
TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2019/HS-ST
Ngày 16 - 10 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diệp

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Gạt

Ông Tán Nghị

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Loan - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2019/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ tên: Lê Thị S, tên gọi khác: Không; sinh ngày: 01.02.1965; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ 53, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Giới tính: Nữ. Nghề nghiệp: Buôn bán. Trình độ học vấn: 03/12. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lê Hoàng A và bà Tô Thị L (cả hai đã chết). Bị cáo là con thứ ba trong gia đình có 07 người con. Chồng: Ông Đồng Vĩnh H, sinh năm: 1967; có hai con, con lớn nhất sinh năm 1984, con nhỏ nhất sinh năm 1997.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 18.02.2019, bị Công an phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Nhân thân: Ngày 11.7.2007, bị Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tuyên phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Người bị hại:

+ Chị Nguyễn Thị Thùy L; sinh năm 1987; trú tại: thôn D, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; có mặt.

+ Bà Đặng Thị Kim H; sinh năm 1962; trú tại: thôn L, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đồng Vĩnh H, sinh năm: 1967; trú tại: Tổ 53, phường T, quận H, Tp. Đà Nẵng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 7 giờ 15 phút ngày 11.5.2019, Lê Thị S điều khiển xe môtô biển kiểm soát 43R2-9189, đến quán tạp hóa “Thùy Ly” ở thôn D, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng do chị Nguyễn Thị Thùy L làm chủ. Sáu vào hỏi mua hàng thì có cháu Nguyễn Thanh M, sinh năm 2011, là con trai của chị L đang ngồi xem tivi tại phòng khách. Khi thấy cháu M đang chăm chú xem tivi và không để ý đến mình nên S nẩy sinh ý định trộm cắp tài sản, S nhìn thấy 01 cây thuốc lá hiệu White Horse và 01 cây thuốc lá hiệu Virginia lén lút lấy trộm 02 cây thuốc lá này kẹp vào nách áo rồi lấy áo khoát che lại và đi đến chỗ để xe của mình điều khiển xe chạy đến bãi đất trống đối diện tiệm sửa xe máy Bá Hùng, trên đường ĐT 605 thuộc thôn D, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng, cất giấu hai cây thuốc vừa trộm được dưới tấm tôn đồng thời lấy lá cây phủ lên. Sau đó, S điều khiển mô tô đi đến tiệm tạp hóa “Cô Họp” đối diện chợ Lệ Trạch thuộc thôn L, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng do chị Đặng Thị Kim H làm chủ. Tại đây Lê Thị S hỏi mua chị H một số hàng hóa gồm sữa, mì tôm, bánh kẹo ngọt… với tổng số tiền là 250.000 đồng, S thanh toán tiền và bỏ đi. Khoảng 15 phút sau, Lê Thị S quay lại quán “Cô Họp” để tiếp tục hỏi mua một số hàng hóa gồm sữa, bánh, kẹo…. với tổng số tiền là 116.000 đồng. Khi chị H đang ngồi dưới đất tính tiền thì S lẻn ra sau lưng lấy 01 cây thuốc hiệu White Horse để trên đầu tủ gỗ và kẹp vào nách rồi dùng áo khoác che lại. Sau khi trả tiền hàng xong, S ra khỏi quán rồi điều khiển xe bỏ đi.

Ngoài ra, quá trình điều tra Lê Thị S còn khai nhận vào tháng 7.2018, S đã lấy trộm 01 cây thuốc lá hiệu White Horse trị giá 214.000 đồng của chị Nguyễn Thị Thùy L.

* Tại bản kết luận định giá tài sản số 37 ngày 20.6.2019 của Hội đồng định giá thường xuyên huyện Hòa Vang kết luận: 01 cây thuốc lá hiệu Virginia Gold có trị giá 123.000 đồng; 02 cây thuốc lá hiệu White Horse có trị giá 428.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà Lê Thị S đã chiếm đoạt là: 551.000 đồng.

Vật chứng tạm giữ:

- 01 xe mô tô Yamaha Nouvo 135 RC màu đỏ, đen, trắng biển kiểm soát 43R2- 9189;

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển kiểm soát 43R2-9189, số 018139 mang tên Lê Thị S;

- 01 cây thuốc lá gồm 10 gói nhỏ hiệu White Horse màu vàng;

- 05 bịch sữa vinamilk, 02 lon nước yến Sanest, 01 bánh Creamo, 01 lon sữa Phương Nam, 01 bánh đậu xanh, 01 bánh đậu xanh tầng, 02 bình dáng.

Về xử lý vật chứng:

- Đối 01 cây thuốc lá gồm 10 gói nhỏ hiệu White Horse màu vàng. Sau khi định giá tài sản phục vụ cho việc giải quyết vụ án Cơ quan CSĐT Công an huyện Hòa Vang đã ra quyết định trả lại cho chủ sở hữu là chị Đặng Thị Kim H.

- Đối với 05 bịch sữa vinamilk, 02 lon nước yến Sanest, 01 bánh Creamo, 01 lon sữa Phương Nam, 01 bánh đậu xanh, 01 bánh đậu xanh tầng, 02 bình dáng. Đây là số hàng hóa hóa Sáu đã mua và thanh toán tiền tại tiệm tạp hóa chị H nên đã trả lại cho bị cáo.

- Đối 01 xe mô tô Yamaha Nouvo 135 RC màu đỏ, đen, trắng biển kiểm soát 43R2- 9189, kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển kiểm soát 43R2-9189, số 018139 mang tên Lê Thị S hiện đang bị tạm giữ.

Về dân sự: Sau khi sự việc xảy ra bị cáo Lê Thị S đã tự nguyện bồi thường số tiền 550.000 đồng cho bị hại chị Nguyễn Thị Thùy L. Hiện các bị hại không yêu cầu gì thêm.

Tại Bản cáo trạng số 61/CT-VKSNDHV ngày 10.9.2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Lê Thị S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 173; Điều 36; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Xử phạt: Bị cáo Lê Thị S từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ; miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo và trả lại cho bị cáo Lê Thị S 01 xe mô tô Yamaha Nouvo 135 RC màu đỏ, đen, trắng biển kiểm soát 43R2-9189, kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển kiểm soát 43R2-9189, số 018139 mang tên Lê Thị S.

Tại phiên tòa, quá trình xét hỏi bị cáo Lê Thị S thừa nhận hành vi phạm tội như trong bản cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa, ông Đồng Vĩnh H trình bày: Tiền mua xe mô tô Yamaha Nouvo 135 RC biển kiểm soát 43R2- 9189 là do ông bỏ ra mua và cho vợ ông là Lê Thị S đứng tên, để vợ ông có phương tiện đi lại nên xin Hội đồng xét xử cho bị cáo nhận lại.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải, hứa không tái phạm và mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng án treo. Đối với xe mô tô Yamaha Nouvo 135 RC biển kiểm soát 43R2- 9189 là của chồng bị cáo là ông Đồng Vĩnh H mua để có phương tiện đi lại nên xin Hội đồng xét xử cho bị cáo nhận lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án:

Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Thị S tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cở sở xác định: Mặc dù vào ngày 18.02.2019, Lê Thị S đã bị xử lý hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, nhưng vào ngày 11.5.2019, S đã lén lút lấy trộm 01 cây thuốc lá hiệu White Horse và 01 cây thuốc là hiệu Virginia Gold của chị Nguyễn Thị Thùy L, trị giá 337.000 đồng; trộm cắp 01 cây thuốc lá hiệu White Horse của chị Đặng Thị Kim H, trị giá 214.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà S đã chiếm đoạt là 551.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Bản cáo trạng số 61/CT-VKSNDHV ngày 10.9.2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an xã hội tại địa phương. Tuy nhân thân của bị cáo xấu nhưng, xét quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Sáu thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả đã gây ra cho những người bị hại; những người bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo Lê Thị S phạm tội ít nghiêm trọng, có 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và không có tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà để bị cáo tự cải tạo, giáo dục mình tại xã, phường cũng đủ giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.

Xét gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, vừa thoát nghèo, hiện bị cáo không buôn bán và có thu nhập gì nên Hội đồng xét xử miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

- Bà Đặng Thị Kim H đã được nhận lại 01 cây thuốc lá gồm 10 gói nhỏ hiệu White Horse màu vàng; bị cáo Lê Thị S đã nhận lại: 05 bịch sữa vinamilk, 02 lon nước yến Sanest, 01 bánh Creamo, 01 lon sữa Phương Nam, 01 bánh đậu xanh, 01 bánh đậu xanh tầng, 02 bình dáng theo Quyết định xử lý vật chứng ngày 10.8.2019 của Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa Vang nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Đối với 01 xe mô tô Yamaha Nouvo 135 RC màu đỏ, đen, trắng biển kiểm soát 43R2- 9189 hiện đang bị tạm giữ. Chiếc xe này do chồng bị cáo là ông Đồng Vĩnh H bỏ tiền ra mua và cho bị cáo đứng tên, có phương tiện đi lại nên Hội đồng xét xử trả xe môtô biển kiểm soát 43R2-9189 kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển kiểm soát 43R2-9189, số 018139 mang tên Lê Thị S cho bị cáo là phù hợp.

Về dân sự:

Bị cáo Lê Thị S đã tự nguyện bồi thường số tiền 550.000 đồng cho bị hại chị Nguyễn Thị Thùy L. Các bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Theo những nhận định như trên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

Về án phí: Bị cáo Lê Thị S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 173; Điều 36; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị S về tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thị S 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính kể từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Lê Thị S cho Ủy ban nhân dân phường Thanh Bình, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Thanh Bình trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Lê Thị S.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên trả cho bị cáo Lê Thị S 01 xe mô tô Yamaha Nouvo 135 RC màu đỏ, đen, trắng biển kiểm soát 43R2- 9189, kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển kiểm soát 43R2-9189, số 018139 mang tên Lê Thị S.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27.9.2019 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Hòa Vang và Chi Cục thi hành án dân sự huyện Hòa Vang).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Lê Thị S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ