- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Tấn A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2019/HS-ST. Ngày: 14/10/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
*Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Đạt.
*Các Hội thẩm nhân dân:
1/. Ông Châu Vũ Bình.
2/. Ông Trương Hoàng Hoa.
-Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thanh Phong- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thành Khánh Duy-Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2019/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2019/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Võ Tấn A. Sinh năm 1956. Giới tính: Nam
- Nơi sinh: Tiền Giang.
- HKTT: Ấp M, xã N, T.p X, tỉnh Tiền Giang.
- CMND số: 311760582
- Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.
- Trình độ học vấn: 12/12.
- Nghề nghiệp: Làm ruộng.
* Quan hệ gia đình:
- Cha: Võ Văn B, đã chết.
- Mẹ: Nguyễn Thị C, đã chết.
- Vợ: Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1960.
- Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1994.
- Gia đình bị cáo có 04 anh, chị, em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
- Tiền sự, tiền án: 00.
- Bị cáo tại ngoại.
*Người bị hại:
Nguyễn Ngọc E, sinh năm 1963.
Trú tại: ấp M2, xã N2, huyện Y, tỉnh Tiền Giang. (có mặt)
*Người làm chứng:
1/. Nguyễn Ngọc G1, sinh năm 1994
Trú tại: ấp M2, xã N2, huyện Y, tỉnh Tiền Giang. (có mặt)
2/. Phan Thành G2, sinh năm 1973 (có mặt)
Trú tại: ấp M, xã N, thành phố X, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do mâu thuẫn trong gia đình nên bà Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1960, ngụ ấp M, xã N, thành phố X, tỉnh Tiền Giang là vợ của Võ Tấn A sang phần đất của ông Nguyễn Ngọc E, sinh năm 1963, ngụ ấp M2, xã N2, huyện Y, tỉnh Tiền Giang ( em ruột bà D) để xây nhà sinh sống. Khoảng 17 giờ ngày 08/02/2019, A đến thăm bà D, sau khi nói chuyện xong, A ra về thì bà D khóa cửa rào lại do đó A không tiếp tục vào bên trong nhà được nên đứng bên ngoài dùng chân đạp vào cửa rào nhà ông E (nhà bà D và nhà ông Nguyễn Ngọc E có chung cửa rào). Lúc này ông E đi chúc Tết về nhìn thấy sự việc nên hai bên xảy ra cự cãi và xô xát với nhau, Võ Tấn A đã dùng một điện thoại di động nhãn hiệu Oppo (cảm ứng, kích thước 6,5 cm x 13 cm x 0,8 cm) mang theo trong người ném trúng vào mắt trái của ông E gây thương tích. Sau đó, Nguyễn Ngọc G1 (con trai ông E), sinh năm 1994, ngụ cùng ấp đã dùng tay đánh ông A gây thương tích.
Theo bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 135/2019/TgT ngày 26/3/2019 kết luận tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Ngọc E là 29%, thương tích do vật tầy gây nên.
Theo bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 162/2019/TgT ngày 09/4/2019 kết luận tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Võ Tấn A là 03%, thương tích do vật tầy gây nên.
Đối với hành vi của Nguyễn Ngọc G1 dùng tay gây thương tích cho Võ Tấn A, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã xác định không đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự nên đã ra Quyết định xử lý hành chính đối với G1.
Về vật chứng trong vụ án:
+ 01 điện thoại di động hiệu OPPO cảm ứng, màu xanh đen, kích thước 6,5cm x 13cm x 0,8cm.
Về tránh nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị hại Nguyễn Ngọc E có đơn yêu cầu tiền khám, chữa bệnh, tiền ngày công lao động và tổn thất tinh thần do sức khỏe bị xâm hại là 752.765.000 đồng, bị cáo Võ Tấn A không đồng ý nên chưa tiến hành bồi thường. Riêng đối với hành vi bị Nguyễn Ngọc G1 gây thương tích, bị cáo Võ Tấn A không yêu cầu bồi thường về dân sự.
Tại bản cáo trạng số 60/CT-VKS-CG ngày 13/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang truy tố Võ Tấn A tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng, căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Tòa án áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử bị cáo Võ Tấn A tội “Cố ý gây thương tích”, phạt bị cáo Võ Tấn A từ 02 năm đến 03 năm tù.
Về vật chứng vụ án: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO cảm ứng, màu xanh đen, kích thước 6,5 cm x 13 cm x 0,8 cm.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại về sức khỏe của bị hại Nguyễn Ngọc E theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Võ Tấn A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp với lời khai bị hại, nhân chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó, bản cáo trạng số 60/CT-VKS-CG ngày 13/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang là có căn cứ.
Xét về tính chất và mức độ hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Võ Tấn A khai nhận có thực hiện hành vi đã dùng một điện thoại di động nhãn hiệu Oppo (cảm ứng, kích thước 6,5 cm x 13 cm x 0,8 cm) mang theo trong người ném trúng vào mắt trái của ông Nguyễn Ngọc E gây thương tích. Hậu quả ông E bị thương tích ở mắt trái và được người nhà đưa đi bệnh viện cấp cứu. Theo bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 135/2019/TgT ngày 26/3/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Tiền Giang kết luận tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Ngọc E là 29 %.
Xét thấy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố để cấu thành tội, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Võ Tấn A phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
………………………......
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
………………………….
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.”
Xuất phát từ bản tính hung hăng, côn đồ, ý thức xem thường pháp luật của bị cáo Võ Tấn A chỉ vì mâu thuẫn với ông E (em vợ), không biết kiềm chế mà đã dùng một điện thoại di động nhãn hiệu Oppo (cảm ứng, kích thước 6,5 cm x 13 cm x 0,8 cm) mang theo trong người tấn công, ném trúng vào mắt trái của ông Nguyễn Ngọc E. Bản thân bị cáo vẫn ý thức được tính mạng sức khỏe của con người là vốn quý của xã hội, mọi sự xâm hại đều bị pháp luật trừng trị nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo chẳng những gây thương tích, xâm hại đến sức khỏe của ông Nguyễn Ngọc E mà còn gây ảnh hưởng đến tình hình quản lý trật tự địa phương nơi khu vực xảy ra vụ án. Với hành vi này Hội đồng xét xử cần phải nghiêm trị để răn đe và giáo dục cho bị cáo ý thức sống phải biết chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo: Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Tại phiên tòa, bị cáo Võ Tấn A trình bày trong quá trình điều tra, truy tố không có việc ép cung; việc truy tố, xét xử đối với hành vi phạm tội của bị cáo là không oan sai, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy bị cáo Võ Tấn A không có tiền án, tiền sự; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Võ Tấn A. Xét thấy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với hành vi của Nguyễn Ngọc G1 dùng tay gây thương tích cho Võ Tấn A, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã xác định không đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự nên đã ra Quyết định xử lý hành chính đối với Nguyễn Ngọc G1 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đang tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu OPPO cảm ứng, màu xanh đen, kích thước 6,5cm x 13cm x 0,8cm thuộc sở hữu của bị cáo Võ Tấn A. Xét vật chứng là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa bị hại Nguyễn Ngọc E yêu cầu bị cáo Võ Tấn A phải có nghĩa vụ bồi thường gồm các khoản:
-Chi phí điều trị: 12.765.000 đồng.
-Tiền mất thu nhập lao động: 540.000.000 đồng.
-Tiền tổn thất tinh thần do sức khỏe bị xâm hại: 200.000.000 đồng.
Tổng cộng số tiền là: 752.765.000 đồng.
Tại phiên tòa bị cáo Võ Tấn A chỉ đồng ý bồi thường theo chi phí hợp lý theo quy định của pháp luật.
Xét thấy, tại hồ sơ vụ án, bị hại ông Nguyễn Ngọc E cung cấp 08 hóa đơn hợp lệ có thể hiện thanh toán (BL 64 đến BL 105) với tổng số tiền 752.000 đồng (lấy số tròn hàng đơn vị, hàng chục) có liên quan đến chi phí hợp lý cho việc cứu chữa nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Hội đồng xét xử cũng chấp nhận các khoản mà bị hại yêu cầu gồm: chi phí xe đi lại thực tế và hợp lý đi từ Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang đến Bệnh viện Mắt TP. Hồ Chí Minh và ngược lại là 1.100.000 đồng; chi phí đi lại tái khám 10 lần: 2.475.000 đồng; chi phí điều trị nội trú và bồi dưỡng cho người bệnh, người chăm sóc 7 ngày ( từ ngày 08/02-14/02/2019) tại TP. Hồ Chí Minh là 8.000.000 đồng (Theo bảng kê chi phí điều trị đề ngày 22/7/2019 của ông Nguyễn Ngọc E). Chấp nhận một phần yêu cầu đòi bồi thường thu nhập bị mất của người bị thiệt hại không thể lao động được thời gian 06 tháng từ ngày 08/02/2019 đến ngày 08/8/2019 là 45.000.000 đồng (180 ngày x 250.000 đồng/ngày) (căn cứ theo Biên bản xác minh công việc thực tế của ông E ngày 25/7/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, bút lục 105); Chấp nhận một phần yêu cầu đòi bồi thường tổn thất về tinh thần là 12 tháng với số tiền 17.880.000 đồng. Tổng cộng: 75.207.000 đồng.
Về án phí hình sự sơ thẩm:
Bị cáo Võ Tấn A là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Võ Tấn A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1/.Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Phạt bị cáo Võ Tấn A 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
2/ Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO cảm ứng, màu xanh đen, kích thước 6,5cm x 13cm x 0,8cm.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y).
3/ Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Võ Tấn A có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho ông Nguyễn Ngọc E với số tiền 75.207.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu hai trăm lẻ bảy nghìn đồng). Thực hiện ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày ông Nguyễn Ngọc E có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo Võ Tấn A chậm trả tiền thì bị cáo A còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
4/Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Võ Tấn A được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Võ Tấn A và bị hại Nguyễn Ngọc E có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Chợ Gạo; - Công an huyện Chợ Gạo; - Nhà Tạm giữ Công an h. Chợ Gạo; - Chi cục THADS huyện Chợ Gạo; - Bị cáo; - Bị hại; -Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán-Chủ Tọa Phiên Tòa (đã ký) Nguyễn Quốc Đạt |