vanban.org

Bản án 59/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Cao Bằng Tuyên án 21/11/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Lý Quang H về hình phạt.

* Chấp nhận kháng cáo tăng mức bồi thường thiệt hại về sức khỏe của bị hại Lý Văn N. Sửa phần bồi thường thiệt hại của Bản án hình sự sơ thẩm số: 95/2019/HS-ST ngày 16/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Xử phạt: Bị cáo Lý Quang H 03 (Ba) năm về tội “Cố ý gây thương tích”. … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Quang H phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi…"
  • Tòa quyết gì? * Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Lý Quang H về hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2019/HS-PT
Ngày 21-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N1

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nông Biên Hòa.

Các Thẩm phán: Ông Mã Văn Quân,

Bà Phùng Thị Ương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Thanh CHên, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Nông Diệu Linh- Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 11 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 51/2019/TLPT-HS ngày 25 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo Lý Quang H do có kháng cáo của bị cáo và bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 95/2019/HS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

- Bị cáo có kháng cáo:

Lý Quang H, sinh ngày 17/12/1997 tại Huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 08, phường Ngọc Xuân, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: N1; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N1; con ông Lý Trung T sinh năm 1971 và bà Lê Thị T1, sinh năm 1973; Anh chị em ruột: Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/5/2019, hiện nay đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Cao Bằng. Có mặt.

- Bị hại có kháng cáo: Lý Văn N, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Xóm LP, xã QV, Huyện TL, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Lý Văn N: Bà Hà Thị H1 - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Cao Bằng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại theo Quyết định cử trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ 30 ngày 19/3/2019, Lý Văn N (sinh năm 1995, trú tại: xóm LP, xã QV, Huyện TL, tỉnh Cao Bằng) cùng với Đào Văn T2 (sinh năm 2001, trú tại: xóm Cốc Sa, xã Hạ Thôn, Huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng), Phùng Văn Đ (sinh năm 2000, trú tại: xóm CP, xã NL, Huyện HA, tỉnh Cao Bằng), Lý Quang H (sinh năm 1997, trú tại: tổ 08, phường Ngọc Xuân, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng), Nông Văn N1 (sinh năm 1998, trú tại: xóm Phay Khắt, xã Tam Kim, Huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), Dương Văn H2 (sinh năm 1988, trú tại: xóm Khuổi Bốc, xã Dân Chủ, Huyện HA, tỉnh Cao Bằng) và Âu Văn C (sinh năm 2002, trú tại: xóm Bản Ba, xã Kim Đồng, Huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng) cùng nhau tụ tập uống rượu tại quán nước của anh Trần Thế Hòa (sinh năm 1991, trú tại: tổ 24, phường Đề Thám, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng) ở khu vực Trung tâm Hội nghị tỉnh Cao Bằng thuộc tổ 09, phường Đề Thám, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Trong lúc uống rượu giữa T2 và N1 đã có lời qua tiếng lại với nhau, sau đó được N và H kHên can nên T2 và N1 tiếp tục ngồi uống rượu. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày H, N1 và C xin phép về trước. Khi về C điều khiển xe mô tô và chở theo H và N1. Đi được khoảng 100 mét do vẫn còn đang bực tức về việc bị N kHên can, hòa giải mâu thuẫn giữa N1 và T2 nên N1 nói với C và H cùng quay lại để nói cHuyện với N. Khi quay lại quán H và C đứng ở ngoài còn N1 một mình đi vào quán và nói với N “Bây giờ em không thích uống rượu nữa thích đánh nhau thôi” rồi cùng với N đi ra ngoài. Ra đến ngoài đường, N1 dùng tay đánh vào mặt N, N đánh lại N1 rồi cả hai dùng chân, tay cùng nhau vật lộn ở ngoài đường. Thấy N1 bị N đánh liên tục và có phần thất thế hơn so với N nên H đã tiến lại phía N1 và N với mục đích để can ngăn hai người. Tuy nhiên, khi H lại gần thì bị N vung tay đánh trúng vào phần đầu làm H gục xuống đường khoảng ba giây nên H đã bực mình mở ba lô đang đeo ở trên người ra lấy một con dao gấp bằng kim loại màu trắng, cán cầm màu đen, dao dài 25cm, phần rộng N của lưỡi dao là 03cm, phần cán dao dài 13cm, phần lưỡi dao dài 12cm, được làm nhọn ở phần đầu đâm liên tiếp 03 (ba) nhát theo chiều hướng ngang vào người N, trong đó có 02 (hai) nhát vào vùng lưng bên phải và 01 (một) nhát vào vùng mông bên trái của N. Sau đó được mọi người kHên can nên sự việc đã dừng lại và N được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng để cấp cứu và điều trị, còn N1, H và C đi về nhà. Vụ việc trên đã được anh trai của Lý Văn N là Lý Văn Tài (sinh năm 1991, trú tại: xóm LP, xã QV, Huyện TL, tỉnh Cao Bằng) tố giác đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng để yêu cầu xử lý theo quy định của pháp luật.

Ngày 27/3/2019, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng ra quyết định trưng cầu giám định số 70 đối với tỷ lệ phần trăm thương tích của Lý Văn N. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 033/19/TgT ngày 11/4/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Cao Bằng kết luận:

“1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Tổn thương đụng dập nhu mô phân thùy 10 phổi sau phẫu thuật điều trị không để lại di chứng: 10%.

- Tổn thương màng phổi phải, sau phẫu thuật không để lại di chứng: 03%.

- Tổn thương thủng cơ hoành sau phẫu thuật điều trị kết quả tốt: 25%.

- 06 (sáu) vết sẹo vùng ngực, bụng, lưng, mông, kích thước trung bình: 08%.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 40% (bốn mươi phần trăm)”.

Hành vi của Lý Quang H đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố trước pháp luật về tội "Cố ý gây thương tích" theo khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại bản Cáo trạng số: 75/CT-VKSTP ngày 30/7/2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố Lý Quang H về tội "Cố ý gây thương tích" theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 95/2019/HS-ST ngày 16/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã quyết định: Tuyên bố: Bị cáo Lý Quang H phạm tội "Cố ý gây thương tích". Căn cứ: điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Lý Quang H 03 (ba) năm tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 08/5/2019. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự năm 2015. Buộc bị cáo Lý Quang H phải bồi thường cho bị hại Lý Văn N (trú tại: xóm LP, xã QV, Huyện TL, tỉnh Cao Bằng) số tiền 34.540.000 đồng (ba mươi tư triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng); khấu trừ đi số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) gia đình bị cáo đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng theo biên lai số: AA/2016/0000440 ngày 21/8/2019 và biên lai số: AA/2016/442 ngày 28/8/2019. Bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại số tiền 14.540.000 đồng (mười bốn triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng). Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về việc xử lý vật chứng, án phí, và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Ngày 20 tháng 9 năm 2019, bị hại Lý Văn N kháng cáo phần trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong bản án sơ thẩm, với lý do mức bồi thường mà bị cáo buộc phải bồi thường cho bị hại quá thấp. Ngày 26 tháng 9 năm 2019, bị cáo Lý Quang H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên toà phúc thẩm: Bị hại Lý Văn N vắng mặt tại phiên tòa. Trợ giúp viên pháp lý bà Hà Thị H1 bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Lý Văn N trình bày ý kiến: Tại phiên tòa bị hại vắng mặt, bị hại đã có ý kiến với người bảo vệ quyền lợi là vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu tăng mức bồi thường đối với khoản tiền tổn thất về tinh thần thêm 10 tháng lương tối thiểu. Bị cáo Lý Quang H rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo. Bị cáo N trí với yêu cầu kháng cáo của bị hại, chấp nhận tăng mức bồi thường khoản tiền tổn thất tinh thần tương đương 10 tháng lương tối thiểu.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng phát biểu quan điểm về giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Lý Quang H phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Xét thấy mức án 03 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo H là phù hợp. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 20/9/2019 bị hại Lý Văn N kháng cáo bản án sơ thẩm số 95/2019/HS-ST ngày 16/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đề nghị tăng mức bồi thường thiệt hại về sức khỏe; ngày 20/9/2019 bị cáo Lý Quang H kháng cáo bản án sơ thẩm số 95/2019/HS-ST ngày 16/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt. Đơn kháng cáo của bị cáo, bị hại được gửi trong hạn kháng cáo, có nội dung đầy đủ theo quy định. Do vậy đơn kháng cáo của bị cáo và bị hại là hợp pháp. Tại phiên tòa bị cáo Lý Quang H rút toàn bộ kháng cáo; đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo. Đối với kháng cáo của bị hại Lý Văn N, cấp sơ thẩm đã xem xét các khoản bồi thường hợp lý theo quy định pháp luật, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo chấp nhận yêu cầu của bị hại. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm b khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị hại Lý Văn N, sửa một phần bản án sơ thẩm.

Bị cáo N trí với nội dung bản luận cứ bào chữa của người bào chữa, không có lời bào chữa bổ sung. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại không có ý kiến gì.

Bị cáo không có ý kiến gì khi được nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Lý Quang H và bị hại Lý Văn N có kháng cáo; xét đơn kháng cáo của bị cáo và bị hại trong hạn luật định và thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hành vi phạm tội: Vào khoảng 21 giờ 19/3/2019, tại đoạn đường dẫn phía trước Trung tâm hội nghị tỉnh Cao Bằng thuộc tổ 09, phường Đề Thám, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, Lý Quang H có hành vi dùng con dao gấp kim loại màu trắng là hung khí nguy hiểm đâm liên tiếp 03 (ba) nhát theo chiều hướng ngang vào người N, trong đó có 02 (hai) nhát vào vùng lưng bên phải và 01 (một) nhát vào vùng mông bên trái của N gây tổn thương cơ thể của anh Lý Văn N do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 40%. Nên có đầy đủ cơ sở khẳng định bản án hình sự sơ thẩm số 95/2019/HS-ST ngày 16/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã xét xử bị cáo Lý Qaung H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ. [3] Về kháng cáo của bị cáo Lý Quang H: Tại phiên tòa bị cáo Lý Quang H rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo, xét việc rút kháng cáo của bị cáo là tự nguyện và phù hợp pháp luật, nên cần chấp nhận. Do vậy cần đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo. [4] Xét kháng cáo của bị hại Lý Văn N: Xét cấp sơ thẩm đã xem xét căn cứ vào thiệt hại về sức khỏe của bị hại, quy định của Bộ luật dân sự để buộc bị cáo bồi thường cho bị hại các khoản theo bản án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ hợp lý theo quy định pháp luật. Đối với yêu cầu bồi thường về tổn thất tinh thần: tại khoản 2 Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần nếu các bên không thỏa thuận được tối đa không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận khoản tiền tổn thất tinh thần bị cáo phải bồi thường cho bị hại 10 tháng lương cơ sở là thấp, chưa phù hợp. Do đó, có căn cứ để xem xét kháng cáo của bị hại và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Tại phiên tòa bị cáo chấp nhận tăng mức bồi thường theo yêu cầu bị hại, do vậy cần buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại khoản tiền tổn thất về tinh thần bằng 20 lần mức lương cơ sở mới tương xứng với tổn thất mà bị hại phải gánh chịu. Theo đó mức lương cơ sở của Nhà nước hiện nay là 1.490.000 đồng x 20 lần = 29.800.000 đồng. Do đó, bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại tổng số tiền là 49.440.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng), khấu trừ đi số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) gia đình bị cáo đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng Bằng. Bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại số tiền 29.440.000 đồng. [5] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm của số tiền phải bồi thường. Bị hại không phải chịu án phí hình sự, dân sự phúc thẩm. [5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

* Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Lý Quang H về hình phạt.

* Chấp nhận kháng cáo tăng mức bồi thường thiệt hại về sức khỏe của bị hại Lý Văn N. Sửa phần bồi thường thiệt hại của Bản án hình sự sơ thẩm số: 95/2019/HS-ST ngày 16/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Lý Quang H 03 (Ba) năm về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08/5/2019.

2. Về phần bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự. Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Lý Quang H phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại Lý Văn N (trú tại: xóm LP, xã QV, Huyện TL, tỉnh Cao Bằng) số tiền 49.440.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng); khấu trừ đi số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) gia đình bị cáo đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng Bằng theo biên lai số: AA/2016/0000440 ngày 21/8/2019 và biên lai số: AA/2016/442 ngày 28/8/2019. Bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 29.440.000 đồng (Hai mươi chín triệu bốn trăm bốn mươi bốn nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Lý Quang H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Lý Quang H phải chịu án phí dân sự có giá ngạch là 1.472.000đ (một triệu bốn trăm bẩy mươi hai nghìn đồng) để sung công quỹ Nhà nước. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. 4. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ