vanban.org

Bản án 59/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Không công nhận chị Dư Thùy L và anh Võ Văn L là vợ chồng.

Về con chung, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau: Anh Võ Văn L chịu trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng một người con chung tên là Võ Hoai L (giới tính nam), sinh ngày 13 tháng 9 năm 2012. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Võ Văn L không yêu cầu chị Dư Thùy L cấp dưỡng nuôi con. Chị Dư Thùy L… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Không công nhận chị Dư Thùy L và anh Võ Văn L là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH CÀ MAU
—————
Bản án số: 59/2019/HNGĐ-ST
Ngày 18-7-2019
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Thanh Tùng.

Bà Nguyễn Kim Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Ngày 18 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 165/2019/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2019 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Dư Thùy L, sinh năm 1993 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp L, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Võ Văn L, sinh năm 1982 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp L, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 28 tháng 5 năm 2019 cùng các văn bản kèm theo, chị Dư Thùy L trình chị: Chị và anh Võ Văn L chung sống như vợ chồng từ năm 2010, đến nay không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn và vợ chồng không còn chung sống với nhau. Xét thấy hôn nhân không còn hạnh phúc, tình cảm giữa vợ chồng không thể hàn gắn được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Võ Văn L. Về con chung, có một người tên là Võ Hoai L (giới tính nam), sinh ngày 13 tháng 9 năm 2012, hiện đang do anh Võ Văn L nuôi dưỡng. Nay chị yêu cầu giao con chung cho anh Võ Văn L tiếp tục nuôi, chị không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 28 tháng 5 năm 2019 và tại phiên tòa, bị đơn anh Võ Văn L trình bày: Về thời gian sống chung và không đăng ký kết hôn cũng như mâu thuẫn xảy ra giữa anh và chị Dư Thùy L đúng như chị Dư Thùy L đã khai. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị Dư Thùy L không chung thủy trong tình cảm vợ chồng, anh đã nhiều lần khuyên ngăn và vợ chồng cùng nhau cố gắng giải quyết mâu thuẫn, nhưng không mang lại kết quả. Nay cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng không thể tiếp tục cuộc sống chung, nên anh đồng ý ly hôn với chị Dư Thùy L. Con chung, đúng như chị Dư Thùy L đã trình bày, anh chấp nhận nuôi con chung và anh không yêu cầu chị Dư Thùy L cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Việc chị Dư Thùy L xin ly hôn anh Võ Văn L là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đồng thời, chị Dư Thùy L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt chị Dư Thùy L là có căn cứ.

Xét về hôn nhân, chị Dư Thùy L và anh Võ Văn L sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2010 đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nên hôn nhân giữa chị Dư Thùy L và anh Võ Văn L vi phạm quy định về đăng ký kết hôn. Do đó, căn cứ vào quy định tại các điều 9, 14, 53 của Luật hôn nhân và gia đình thì hôn nhân giữa chị Dư Thùy L và anh Võ Văn L không được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Chị Dư Thùy L và anh Võ Văn L không được công nhận là vợ chồng.

Về con chung, có một người tên là Võ Hoai L (giới tính nam), sinh ngày 13 tháng 9 năm 2012, hiện đang do anh Võ Văn L nuôi dưỡng. Chị Dư Thùy L và anh Võ Văn L thống nhất thỏa thuận giao con chung cho anh Võ Văn L tiếp tục nuôi và anh Võ Văn L không yêu cầu chị Dư Thùy L phải cấp dưỡng nuôi con. Sự thỏa thuận về người nuôi con và không cấp dưỡng nuôi con giữa chị Dư Thùy L và anh Võ Văn L là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và đúng theo quy định tại các điều 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Từ đó, công nhận sự thỏa thuận về người nuôi con và không cấp dưỡng nuôi con giữa chị Dư Thùy L và anh Võ Văn L là có căn cứ.

Chị Dư Thùy L và anh Võ Văn L xác định tài sản chung và nợ chung không có nên không đặt ra xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Dư Thùy L phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng các điều 9, 14, 53, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

1. Tuyên bố: Không công nhận chị Dư Thùy L và anh Võ Văn L là vợ chồng.

2. Về con chung, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau: Anh Võ Văn L chịu trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng một người con chung tên là Võ Hoai L (giới tính nam), sinh ngày 13 tháng 9 năm 2012. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Võ Văn L không yêu cầu chị Dư Thùy L cấp dưỡng nuôi con.

Chị Dư Thùy L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị Dư Thùy L phải chịu 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0019200, ngày 28 tháng 5 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, chị Dư Thùy L đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Anh Võ Văn L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Dư Thùy L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ