- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Trần Thị H xin ly hôn ông Nhan Quyết T"
- Tòa quyết gì? 1 - Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị H và ông Nhan Quyết T.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2019/HNGĐ-ST Ngày: 04-11-2019 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Thành Bê
2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Trinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Vũ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Không.
Ngày 04 tháng 11 năm 2019 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 209/2019/TLST-HNGĐ ngày 19-8-2019 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 9 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 81/2019/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1974 (có mặt)
2. Bị đơn: Ông Nhan Quyết T, sinh năm 1970 (có mặt)
Địa chỉ: ấp X, xã B, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 19/4/2019, biên bản hòa giải ngày 20/9/2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày:
Bà và ông Nhan Quyết T chung sống với nhau từ năm 1990 đến nay không đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống thật sự hạnh phúc được khoảng 30 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống và việc làm ăn kinh tế của gia đình nên thường xuyên xảy ra cãi nhau làm cho cuộc sống mâu thuẫn vợ chồng ngày càng nhiều không thể khắc phục được, do đó vợ chồng thật sự ly thân nhau từ tháng 3 năm 2019 đến nay.
Về quan hệ con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 03 đứa con chung tên Nhan Thị N, sinh ngày 07/6/1991, Nhan Quốc H1, sinh ngày 05/8/1994 và Nhan Nhật H2, sinh ngày 07/02/2001. Hiện các con đã thành niên, tự lao động, sinh sống được.
Về quan hệ tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận phân chia và đã phân chia xong.
Về quan hệ nợ chung: Vợ chồng không nợ chung tài sản gì đối với ai khác cũng không ai nợ vợ chồng.
Nay yêu cầu Tòa án giải quyết:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xin ly hôn với ông Nhan Quyết T;
2. Về quan hệ con chung: Hiện các con đã thành niên, tự lao động, sinh sống được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết;
3. Về quan hệ tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận phân chia và đã phân chia xong nên không yêu cầu Tòa án giải quyết;
4. Về quan hệ nợ chung: Vợ chồng không nợ chung tài sản gì đối với ai khác cũng không ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản hòa giải ngày 20/9/2019 và trong quá trình xét xử bị đơn ông Nhan Quyết T trình bày:
Về thời gian ông và bà Trần Thị H chung sống với nhau năm 1990 đến nay không đăng ký kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng, thời gian ly thân; vợ chồng có 03 con chung, họ tên, ngày tháng năm sinh của các con; về tài sản chung của vợ chồng; về nợ chung là đúng như ý kiến của bà H trình bày nêu trên ông không trình bày gì thêm.
Nay theo yêu cầu của bà H, ông có ý kiến như sau:
1. Về hôn nhân: Đồng ý ly hôn với bà Trần Thị H;
2. Về quan hệ con chung: Hiện các con đã thành niên, tự lao động, sinh sống được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết;
3. Về quan hệ tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận phân chia và đã phân chia xong nên không yêu cầu Tòa án giải quyết;
4. Về quan hệ nợ chung: Vợ chồng không nợ chung tài sản gì đối với ai khác cũng không ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa: Các đương sự vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày và yêu cầu như trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị H và ông Nhan Quyết T chung sống với nhau từ năm 1990, nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền (UBND xã). Như vậy là vi phạm quy định về đăng ký kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986. Đến khi có Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (có hiệu lực ngày 01-01-2001), các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có nhiều văn bản quy định, hướng dẫn việc đăng ký kết hôn đối với những trường hợp như ông, bà trong thời gian hai năm (từ ngày 01-01-2001 đến ngày 01-01-2003) nhưng ông, bà vẫn không thực hiện. Cho đến khi có Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 (có hiệu lực ngày 01-01-2015) và thực tế từ khi có đơn yêu cầu xin ly hôn của bà H và cho đến nay ông, bà vẫn không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do đó, nay bà H có yêu cầu ly hôn, thì theo quy định tại khoản 1 Điều 14, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tòa án sẽ quyết định bằng bản án tuyên bố không công nhận hai người là vợ chồng.
Về quan hệ nuôi con chung: Tại phiên hòa giải cũng như tại phiên tòa hôm nay, giữa bà Trần Thị H và ông Nhan Quyết T đã cùng nhau thống nhất xác định, vợ chồng có 03 đứa con chung tên Nhan Thị N, sinh ngày 07/6/1991, Nhan Quốc H1, sinh ngày 05/8/1994 và Nhan Nhật H2, sinh ngày 07/02/2001 hiện các con đã thành niên, tự lao động, sinh sống được, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về quan hệ tài sản chung: Giữa nguyên đơn bà Trần Thị H và bị đơn ông Nhan Quyết T cùng thống nhất xác định, vợ chồng tự thỏa thuận phân chia và đã phân chia xong, không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về quan hệ nợ chung: Bà Trần Thị H và ông Nhan Quyết T cùng thống nhất xác định, vợ chồng không nợ chung tài sản gì đối với ai khác cũng không ai nợ vợ chồng, không tranh chấp, không yêu cầu Toà án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn bà Trần Thị H có đơn yêu cầu xin ly hôn nên bà Hằng phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015,
Áp dụng khoản 1 Điều 14, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1 - Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị H và ông Nhan Quyết T.
2 - Về nuôi con chung, về tài sản chung và về nợ chung: Không xem xét.
3 - Về án phí: Bà Trần Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0006492 ngày 15 tháng 8 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Minh; bà H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 04/11/2019).
| Nơi nhận: - Toà án tỉnh KG; - VKS huyện, tỉnh; - Các Đ/s; - Chi cục THADS huyện; - Lưu (HSVA, VPTA). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Phạm Thị Mỹ Linh |