vanban.org

Bản án 59/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 11/10/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn ứ á Điều 144, 147, 157, 165, Điều 217, 218, 227, 228, 238, 244, 245, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn ứ các Điều 691, 705 đến Điều 709; Điều 711 đến 713 của Bộ luật Dân sự 1995; Căn ứ các Điều 697, 698, 699, 700, 701 v Điều 702 của Bộ luật Dân sự 2005; Điều 129 và Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 02/2004/NQ- ĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao. Căn ứ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị K với ông Nguyễn Công T, bà Hà Thị Yến C"
  • Tòa quyết gì? Căn ứ á Điều 144, 147, 157, 165, Điều 217, 218, 227, 228, 238, 244, 245, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 129 Bộ luật Dân sự; Điều 245 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 59/2019/DS-ST
Ngày: 11/10/2019
v tranh hấp hợp đồng chuyển
nhƣợng quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Từ Anh Tuấn.

2. Ông Phan Văn Cƣờng.

- Thư ký phiên toà: Nguyễn Thị Nhung - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh ình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Ngân - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 08 và 11 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh ình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 68/2019/TLST-DS ngày 05 tháng 3 năm 2019 về tranh hấp hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 89/2019 QĐXXST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2019, giữa á đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Anh Chung Anh G, sinh năm 1989 v hị Võ Thị Mỹ X, sinh năm 1989; địa chỉ: 34/16 khu phố B 3, phƣờng A, thị xã D, tỉnh ình Dƣơng. Anh G ó đơn xin giải quyết vắng mặt, chị X có mặt

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1970; thƣờng trú: B78/55 T, phƣờng 16, quận 4, thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 15/3D Đ, khu phố B 3, phƣờng A, thị xã D, tỉnh ình Dƣơng.

Ngƣời đại diện hợp pháp: Chị Đặng Thị H, sinh năm 1983; thƣờng trú:1/21A khu phố A, phƣờng T, thị xã D, tỉnh ình Dƣơng; địa chỉ liên hệ: Số 10 đƣờng E T, khu phố N, phƣờng D, thị xã Dĩ An, tỉnh ình Dƣơng, l ngƣời đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 27/3/2019). Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Hà Thị Yến C, sinh năm 1962 v ông Nguyễn Công T, sinh năm 1961; Cùng địa chỉ: 68/3B khu phố B 3, phƣờng A, thị xã D, tỉnh ình Dƣơng. Ông T có đơn xin giải quyết vắng mặt, bà C vắng mặt.

2. Anh Trần Anh V, sinh năm 1997 v Trần Đức T1, sinh năm 1998; ùng địa chỉ: B78/55 T, phƣờng 16, quận 4, thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

3. Cháu Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 31/7/2008;

Ngƣời đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1970; thƣờng trú: B78/55 T, phƣờng 16, quận 4, thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 15/3D Đ, khu phố B 3, phƣờng A, thị xã D, tỉnh ình Dƣơng. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

4. Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D. Ngƣời đại diện hợp pháp: Ông Phạm ăn B, chức vụ: Chấp hành viên Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, l ngƣời đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 13/6/2019). Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

5. Ông Phạm ăn B, sinh năm 1974; địa chỉ: 313/17 Quốc lộ 13, khu phố 5, phƣờng H, quận T, thành phố Hồ Chí Minh, Chấp hành viên Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh ình Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 16/01/2019, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị K là chị Đặng Thị H trình bày:

Ng y 01/3/2004, bà Nguyễn Thị K v ng Nguyễn C ng T, b

Thị ến C (là vợ chồng) thỏa thuận việc ông T, bà C chuyển nhƣợng cho bà K diện tí h đất 50m2, tọa lạc tại Ấp B 3, xã A, huyện D (nay là khu phố B 3, phƣờng A, thị xã D) với giá 75.000.000 đồng, các bên không làm hợp đồng chuyển nhƣợng theo quy định pháp luật mà làm iấy am kết đƣợc chứng thực tại U ND xã A. Sau khi chuyển nhƣợng bà K xây nhà ở đồng thời yêu cầu ông T, bà C thực hiện thủ tục tách thửa, chứng thực để bà K đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhƣng ông T, bà C viện nhiều lý do không thực hiện. Do thời điểm ngày 01/3/2004 giữa bà K và ông T, bà C không đo đạc cụ thể chỉ ƣớ lƣợng diện tích 50m2, nay qua đo đạc lại thì diện tích cụ thể các bên chuyển nhƣợng là 49.5m2 , trong đó 41.6 m2 đất ODT và 7.9m2 đất CLN, diện tích hành lang bảo vệ an to n đƣờng bộ 10m2, phần diện tích bà K đã xây dựng 43.6m2.

Bà K sử dụng đất đến năm 2010 thì chuyển nhƣợng lại toàn bộ nhà đất cho anh Chung Anh G, giá chuyển nhƣợng là 395.000.000 đồng. Việc chuyển nhƣợng giữa bà K và anh G chỉ làm giấy cam kết mua bán nhà, không có sự chứng thực của chính quyền địa phƣơng nhƣng bà C có ký tên với tƣ cách là ngƣời làm chứng. Sau khi anh G giao đủ tiền thì bà K đã giao tài sản và toàn bộ giấy tờ liên quan đến việc mua bán giữa bà K và ông T, bà C cho anh G, chị X.

Ngày 16/01/2019 bà K có đơn khởi kiện đối với ng Nguyễn C ng T, b

Thị ến C tại Tòa án nhân dân thị xã D yêu ầu giải quyết:

C ng nhận hợp đồng huyển nhƣợng quyền sử dụng đất ng y 01 3 2014 giữa b Nguyễn Thị K v b

Thị ến C, ng Nguyễn C ng T l hợp pháp.

Công nhận phần nh đất có diện tích 49,5m2 thuộc một phần thửa đất số 299b, tờ bản đồ số 10 tọa lạc tại khu phố B 3, phƣờng A, thị xã D, tỉnh ình Dƣơng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận 929QSDĐ/AB ngày 14/5/2003 mà bà K nhận chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất từ ông Nguyễn Công T và bà Hà Thị Yến C là tài sản hợp pháp của bà K.

Tuy nhiên, nay bà K xác định sau khi đã chuyển nhƣợng toàn bộ quyền sử dụng đất nêu trên cho anh G thì bà K không còn quyền lợi gì, vì vậy bà K xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện đối với ông T, bà C. Đối với yêu cầu độc lập của anh G và chị X thì bà K không có ý kiến gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

- Ông Nguyễn Công T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nhưng tại biên bản tự khai ngày 21/6/2019 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án đã trình bày:

Thống nhất lời trình bày của bà Nguyễn Thị K về việc vào ng y 01/3/2004, có chuyển nhƣợng cho bà K diện tí h đất 50m2, tọa lạc tại Ấp B 3, xã A, huyện D (nay là khu phố B 3, phƣờng A, thị xã D, tỉnh ình Dƣơng) với giá 75.000.000 đồng, các bên không làm hợp đồng chuyển nhƣợng mà làm iấy am kết đƣợc chứng thực tại U ND xã A. Đất chuyển nhƣợng có nguồn gốc vợ chồng nhận chuyển nhƣợng của bà Phan Thị Đ. Do thời điểm vợ chồng ng mua đất của bà Đ thì hai bên mới chỉ thỏa thuận miệng với nhau, hƣa ký hợp đồng nên hƣa đƣợc cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Vì vậy, vợ chồng ông và bà K cùng thống nhất làm giấy mua bán giấy tay, theo đó vợ chồng ông cam kết sau khi làm xong thủ tục sang tên sổ đỏ sẽ làm thủ tục cho bà K đối với phần đất trên (dự kiến là tháng 12/2004). Tuy nhiên, sau khi vợ chồng ng đƣợc sang tên trên sổ đỏ thì do bà K không yêu cầu sang tên nên vì cuộc sống ng b ũng quên luôn. Thực tế thì bà K vẫn sử dụng phần đất trên ổn định từ thời điểm mua đến nay. Thời điểm chuyển nhƣợng thì hai bên chỉ thỏa thuận về diện tích và vị trí, không tiến h nh đo vẽ cụ thể nhƣng phần đất hiện bà K đang sử dụng là phần đất vợ chồng đồng ý bán cho bà K từ năm 2004. Thời điểm bà K bán tài sản cho anh G và chị X thì ông không biết nhƣng có nghe vợ là bà Hà Thị Yến C kể lại việc bà C có ký tên làm chứng việc mua bán này. Hiện nay phần đất thuộc một phần thửa 299b, tờ bản đồ số 10 đang bị Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D kê biên để đảm bảo cho việc thi hành các bản án, quyết định của vợ chồng ng nên ng đề nghị Tòa án xem xét để đảm bảo quyền lợi cho ngƣời đang trực tiếp sử dụng đất vì tài sản này vợ chồng đã bán từ năm 2004 nên không còn quyền lợi gì.

- Đối với bị đơn bà Hà Thị Yến C: đã đƣợc Toà án thông báo tham gia tố tụng, tống đạt á văn bản tố tụng nhƣng bà C kh ng đến Toà án làm việc, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố nào, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

- Tại bản tự khai ngày 19/3/2019, đơn yêu cầu độc lập ngày 14/6/2019, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa chị Võ Thị Mỹ X trình bày:

Ngày 30/11/2010, vợ chồng chị có ký giấy mua bán nhà với bà Nguyễn Thị K có nội dung bà K đồng ý chuyển nhƣợng cho anh Chung Anh G (chồng chị) căn nhà trên diện tí h đất 50m2 tại địa chỉ khu phố B 3, phƣờng A, thị xã D với giá 395.000.000 đồng. Sau khi ký hợp đồng thì vợ chồng chị trả tiền và bà K giao tài sản, hiện nay hai bên đã thực hiện xong quyền v nghĩa vụ của mình. Do đất của bà K hƣa có sổ đỏ nên vợ chồng chị và bà K hƣa tiến hành thủ tụ sang tên đƣợ nhƣng từ thời điểm nhận chuyển nhƣợng đến nay thì không có bất kỳ cá nhân, tổ chức nào tranh chấp khiếu nại đối với phần đất này. Ngày 29/9/2018, vợ chồng chị nhận đƣợc Quyết định của Chi cục thi hành án dân sự thị xã D về việ ƣỡng chế, xử lý tài sản là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số thửa 299b, tờ bản đồ số 10 của bà Hà Thị Yến C để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của ông Nguyễn Công T, bà Hà Thị Yến C đồng thời thông báo cho vợ chồng chị quyền đƣợc khởi kiện để xá định quyền sở hữu, sử dụng đối với phần tài sản đã nhận chuyển nhƣợng từ bà K.

Tại thời điểm năm 2010 khi ký hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất với bà K thì chỉ có bà K ký tên, theo bà K cung cấp thông tin là do chồng bà K đã chết, các con còn nhỏ nên vợ chồng chị xá định chỉ khởi kiện bà K không khởi kiện các con bà K. Chị ũng thống nhất với biên bản xem xét thẩm định do tòa án tiến hành và thống nhất với mảnh trích lụ địa hính ó đo đạc chỉnh lý năm – 2019 do Chi nhánh ăn phòng đăng ký đất đai thị xã D ký phát hành ngày 24/5/2019. Tại thời điểm bàn giao tài sản, hai bên không tiến h nh đo đạc thực tế trên thự địa. Nay chị X xác định phần diện tích đất bà K chuyển nhƣợng cho vợ chồng chị là phần ký hiệu A thể hiện trên bản vẽ.

Chị X xá định việc mua bán giữa vợ chồng và bà K là hợp pháp. Do đó, việc bà C, ông T ó nghĩa vụ phải thi h nh án kh ng liên quan gì đến phần tài sản vợ chồng chị đã huyển nhƣợng nên đề nghị vợ chồng ông T, bà C thực hiện á nghĩa vụ thi hành án theo quyết định của ơ quan Thi h nh án để không làm ảnh hƣởng đến tài sản của anh chị. Đồng thời, anh chị có yêu cầu độc lập nhƣ sau:

C ng nhận hợp đồng huyển nhƣợng quyền sử dụng đất ngày 30/10/2010 giữa b Nguyễn Thị K và anh Chung Anh G l hợp pháp.

Công nhận phần nh đất có diện tích 49,5m2 thuộc một phần thửa đất số 299b, tờ bản đồ số 10 tọa lạc tại khu phố B 3, phƣờng A, thị xã D, tỉnh ình Dƣơng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận 929QSDĐ/AB ngày 14/5/2003 mà anh G và chị X nhận chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất từ bà Nguyễn Thị K là tài sản hợp pháp của anh G, chị X.

Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản cũng nhƣ án phí dân sự sơ thẩm thì vợ chồng chị đồng ý chịu thay cho bà K.

Anh Chung Anh G có đơn xin giải quyết vắng mặt nhƣng tại bản tự khai ngày 19/3/2019 và đơn yêu ầu độc lập ngày 14/6/2019 thể hiện nội dung thống nhất nhƣ lời khai và yêu cầu của chị X.

- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn B đồng thời là ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã D có yêu cầu giải quyết vắng mặt nhƣng lời khai gửi Tòa án đã xác định:

Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã D đang thụ lý giải quyết hồ sơ thi hành án theo đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị C1 và bà Bùi Thị Lƣơng H1 và hồ sơ chủ động thi hành án để thi hành Bản án dân sự phúc thẩm số: 05/2018/DS – PT ngày 05/01/2018 và Quyết định sửa chữa, bổ sung Bản án dân sự phúc thẩm số: 08/QĐ - SCBSBA ngày 23/02/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh B; Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đƣơng sự số: 33/2018/QĐST-DS ngày 24/5/2018 và Bản án dân sự sơ thẩm số: 128/2017/DS – ST ngày 11/9/2017 của Tòa án nhân dân thị xã D đối với ngƣời phải thi hành án là bà Hà Thị Yến C, sinh năm 1962 và ông Nguyễn Công T, sinh năm 1961; cùng địa chỉ: 68/3B khu phố B 3, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng; ông Huỳnh Hà Bảo Kim L, sinh năm 1986; địa chỉ: 74ª/3B khu phố B 3, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng; ông Nguyễn Hà Công D, sinh năm 1990; địa chỉ: 50/3D khu phố B 3, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.

Theo nội dung thi hành các Quyết định thi hành án số: 1610/QĐ – CCTHADS ngày 26/02/2018; số 2176/QĐ – CCTHADS ngày 20/4/2018; số 2533/QĐ – CCTHADS ngày 06/6/2018; số 2550/QĐ – CCTHADS ngày 07/6/2018 của Chi cục trƣởng Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D thì bà C, ông T, ông L và ông D phải liên đới trả cho bà C1 số tiền 900.500.000 đồng và tiền lãi phát sinh do chậm thi hành án. Bà C, ông T phải liên đới trả cho bà C1 số tiền 2.287.312.500 đồng và tiền lãi phát sinh do chậm thi hành án; bà C có nghĩa vụ trả cho bà Bùi Thị Lƣơng H1 số tiền 1.220.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh do chậm thi hành án. Ngoài ra, bà C, ông T, ông L và ông D còn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Kết quả xác minh thể hiện ông T, bà C có tài sản là quyền sữ dụng đất có diện tích 198,3m2 thuộc thửa 299b, tờ bản đồ số 10 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp giấy chứng nhận số 929/QSDĐ/AB do UBND huyện D (nay là UBND thị xã D) cấp ngày 14 5 2003, đã cập nhật biến động cho bà Hà Thị Yến C, đất tọa lạc tại khu phố B 3, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Tuy nhiên, diện tí h đất này bà C, ông T có bán giấy tay hết ho ngƣời khác, hiện trên đất có vợ chồng anh Chung Anh G và một số ngƣời đang sinh sống trên đất. Ngày 25/9/2018, Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D đã ban hành quyết định ƣỡng chế thi hành án số 33/QĐ – CCTHADS về việc cƣỡng chế kê biên, xử lý tài sản đối với ông T, bà C đồng thời thông báo cho những ngƣời đang sinh sống trên đất về việc xác định quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản thi hành án gửi cá đƣơng sự theo quy định của pháp luật. Đối với yêu cầu khởi kiện của các đƣơng sự trong vụ án thì Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D không đồng ý.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ v định giá tài sản: Quyền sử dụng đất diện tích 49,5m2 giá trị 978.150.000đồng. Các tài sản gắn liền với đất gồm: Căn nh diện tích 43,6m2 giá trị 137.122.000 đồng; 01 điện kế có giá 1.500.000 đồng v 01 đồng hồ nƣớ ó giá 200.000 đồng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã D phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán đƣợ phân ng thụ lý giải quyết vụ án đã thự hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 203 ộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên Tòa ội đồng xét xử đã tuân theo đúng á quy định ủa ộ luật tố tụng dân sự về việ xét xử sơ thẩm vụ án: Căn ứ quy định ủa ộ luật tố tụng dân sự v á quy định pháp luật liên quan đến quyền v nghĩa vụ ủa những ngƣời tham gia tố tụng dân sự: nguyên đơn, bị đơn, ngƣời ó nghĩa vụ quyền lợi liên quan đã thự hiện đầy đủ quyền v nghĩa vụ theo quy định ủa pháp luật. Một số đƣơng sự đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa, tuy nhiên họ đều ó đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị Yến C đã đƣợc triệu tập hợp lệ nhƣng vẫn vắng mặt không có lý do, ăn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt những ngƣời n y l đúng quy định.

Tại phiên tòa, ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuy nhiên, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Chung Anh G và chị Võ Thị Mỹ X vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 245 Bộ luật tố tụng dân sự thay đổi lại địa vị tố tụng của các đƣơng sự trong vụ án.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Ngày 01/3 2004 b Nguyễn Thị K nhận huyển nhƣợng ủa ng Nguyễn C ng T v b

Thị ến C diện tí h đất 50m2 đo đạ thự tế 49,5m2 trong tổng số 195,6m2 ấp ho bà Phan Thị Đ, cập nhật biến động sang tên bà Hà Thị Yến C, giá huyển nhƣợng l 90.000.000 đồng, việ huyển nhƣợng đƣợ lập bằng giấy tay, ó hứng thự ủa U ND xã A, huyện D, tỉnh ình Dƣơng (nay l phƣờng A, thị xã D, tỉnh ình Dƣơng). Sau khi nhận huyển nhƣợng, bà K xây dựng nh ở kiên ố v sống ổn định. Nhƣ vậy, mặ dù việ huyển nhƣợng diện tí h đất trên giữa b Nguyễn Thị K với ng Nguyễn C ng T v b

Thị ến C đƣợ lập bằng giấy tay, hình thứ kh ng tuân thủ theo quy định ủa pháp luật, tuy nhiên á bên đã thự hiện xong hợp đồng huyển nhƣợng, ng T và bà C đã nhận tiền, b K đã xây dựng nh v sử dụng, sinh sống ổn định, không bị ơ quan nh nƣớc có thẩm quyền xử lý vi phạm h nh hính theo á quy định của Nh nƣớc về xử lý vi phạm h nh hính trong lĩnh vự đất đai. Quá trình bà K sử dụng đất thì ông T, bà C không phản đối nên theo hƣớng dẫn tại điểm b3, tiểu mụ 2.3 Nghị quyết 02/2004/NQ- ĐTP ng y 10 tháng 8 năm 2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối ao hƣớng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân v gia đình, xét thấy ó ăn ứ để công nhận hợp đồng hợp đồng chuyển nhƣợng giữa bà K và ông T, bà C.

Đối với giấy cam kết mua bán nhà giữa bà Nguyễn Thị K với anh Chung Anh G thực hiện kh ng đúng mẫu hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật tại Điều 698 Bộ luật dân sự năm 2005, kh ng đƣợc chứng thực của chính quyền địa phƣơng nơi ó đất, tại thời điểm chuyển nhƣợng đất v nh hƣa thuộc quyền sở hữu của bà K là vi phạm về điều kiện chủ thể và hình thức hợp đồng. Tuy nhiên, hợp đồng giữa anh G với bà K xuất phát từ hợp đồng chuyển nhƣợng giữa ông T, bà C với bà K nên tính hợp pháp của hợp đồng này có tính chất quyết định tính hợp pháp của hợp đồng giữa anh G với bà K. Do đó, căn cứ Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015 có căn cứ công nhận việc chuyển nhƣợng giữa bà K và anh G là hợp pháp, yêu cầu khởi kiện của anh G, chị X là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ có tại hồ sơ đã đƣợ thẩm tra tại phiên tòa, ăn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về tƣ cách đƣơng sự: Tại phiên tòa, ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện đối với ông T, bà C, tuy nhiên, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Chung Anh G và chị Võ Thị Mỹ X vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tính hợp pháp của hợp đồng chuyển nhƣợng QSDĐ giữa bà K và ông T, bà C đƣợc thực hiện vào ngày 01/3/2004 để đảm bảo quyền lợi cho anh G, chị X nên căn cứ Điều 245 Bộ luật tố tụng dân sự thì địa vị tố tụng của các đƣơng sự trong vụ án đƣợ thay đổi nhƣ sau: Nguyên đơn là anh Chung Anh G và chị Võ Thị Mỹ X, bị đơn là bà Nguyễn Thị K và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Công T, bà Hà Thị Yến C, anh Trần Anh V, anh Trần Đức T1, bà Nguyễn Thị K (là ngƣời đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 31/7/2008 và ông Phạm Văn B (ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là ngƣời đại diện hợp pháp của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D).

Về sự vắng mặt của các đƣơng sự: Anh Chung Anh G, ông Nguyễn Công T, anh Trần Anh V, anh Trần Đức T1, bà Nguyễn Thị K (là ngƣời đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 31/7/2008 và ông Phạm Văn B (ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là ngƣời đại diện hợp pháp của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D), có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; bà Hà Thị Yến Chi vắng mặt không rõ lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những ngƣời có tên trên theo quy định của Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Ngày 01/3 2004 b Nguyễn Thị K nhận huyển nhƣợng ủa ng Nguyễn C ng T v b

Thị ến C phần đất có diện tí h 50m2 (đo đạ thự tế 49,5m2) trong tổng số 195,6m2 ấp ho bà Phan Thị Đ, cập nhật biến động sang tên bà Hà Thị Yến C ngày 07/01/2004, giá huyển nhƣợng l 90.000.000 đồng, việ huyển nhƣợng đƣợ lập bằng giấy tay, ó hứng thự ủa U ND xã A, huyện D, tỉnh ình Dƣơng (nay l phƣờng A, thị xã D, tỉnh ình Dƣơng). Sau khi nhận huyển nhƣợng, bà K xây dựng nh ở kiên ố v sống ổn định. Nhƣ vậy, mặ dù việ huyển nhƣợng diện tí h đất trên giữa b Nguyễn Thị K với ng Nguyễn C ng T v b

Thị ến C đƣợ lập bằng giấy tay, hình thứ kh ng tuân thủ theo quy định ủa pháp luật, tuy nhiên á bên đã thự hiện xong hợp đồng huyển nhƣợng, ng T và bà C đã nhận tiền, b K đã xây dựng nh v sử dụng, sinh sống ổn định, không bị ơ quan nh nƣớc có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của Nh nƣớc về xử lý vi phạm h nh hính trong lĩnh vự đất đai. Quá trình bà K sử dụng đất thì ông T, bà C không phản đối nên theo hƣớng dẫn tại tiểu mục b.1 khoản 2.3 Điều 2 Mục II và điểm b3, tiểu mụ 2.3 Nghị quyết 02/2004/NQ- ĐTP ng y 10 tháng 8 năm 2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối ao hƣớng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, h n nhân v gia đình thì “Đối với hợp đồng được giao kết trước ngày 01/7/2004 vi phạm điều kiện được hướng dẫn tại điểm a.4 tiểu mục 2.3 mục 2 này, nhưng đã có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất được quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003, mà có phát sinh tranh chấp, nếu từ ngày 01/7/2004 mới có yêu cầu Toà án giải quyết, thì không coi là hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều kiện này v theo quy định tại mục b.3 khoản 2.3 Điều 2 Mục II của Nghị quyết trên ũng quy định Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vi phạm điều kiện được hướng dẫn tại điểm a.4 và điểm a.6 tiểu mục 2.3 mục 2 này, nếu sau khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng đã trồng cây lâu năm, đã làm nhà kiên cố... và bên chuyển nhượng không phản đối và cũng không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, thì Toà án công nhận hợp đồng . Nhƣ vậy, xét thấy ó ăn ứ để công nhận hợp đồng chuyển nhƣợng giữa bà K và ông T, bà C.

Đối với giấy cam kết mua bán nhà giữa bà Nguyễn Thị K với anh Chung Anh G thực hiện kh ng đúng mẫu hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật tại Điều 698 Bộ luật dân sự năm 2005, kh ng đƣợc chứng thực của chính quyền địa phƣơng nơi ó đất, tại thời điểm chuyển nhƣợng đất v nh hƣa thuộc quyền sở hữu của bà K là vi phạm về điều kiện chủ thể và hình thức hợp đồng. Tuy nhiên, hợp đồng giữa anh G với bà K xuất phát từ hợp đồng chuyển nhƣợng giữa ông T, bà C với bà K nên tính hợp pháp của hợp đồng này có tính chất quyết định tính hợp pháp của hợp đồng giữa anh G với bà K. Thực tế, sau khi ký hợp đồng chuyển nhƣợng, anh G đã giao đủ tiền cho bà K số tiền l 395.000.000 đồng và bà K giao nhà, đất cho anh G sử dụng ổn định ho đến nay mà ông T, bà C ũng nhƣ b K đều không phản đối. Căn cứ Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015 thì: “Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó…”. Do đó, có căn cứ công nhận việc chuyển nhƣợng giữa bà K và anh G là hợp pháp.

Từ những phân tích trên, có ăn ứ để hấp nhận yêu ầu độc lập ủa anh Chung Anh G và chị Võ Thị Mỹ X, ng nhận hợp đồng huyển nhƣợng quyền sử dụng đất giữa b Nguyễn Thị K với anh Chung Anh G theo Giấy mua bán nhà lập ng y 30/11/2010 và ng nhận phần đất ó diện tí h 49, 5m2 thuộ một phần thửa 299b, tờ bản đồ số 10 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp giấy chứng nhận số 929/QSDĐ/AB do UBND huyện D (nay là UBND thị xã D) cấp ngày 14 5 2003, đã cập nhật biến động cho bà Hà Thị Yến C ngày 07/01/2004 mà anh G, chị X đang quản lý sử dụng từ việ nhận huyển nhƣợng quyền sử dụng đất từ bà Nguyễn Thị K l hợp pháp.

Tại phiên tòa ngày 08/10/2019, ngƣời đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị K rút yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu C ng nhận hợp đồng huyển nhƣợng quyền sử dụng đất ng y 01 3 2014 giữa b Nguyễn Thị K v b

Thị ến C, ông Nguyễn Công T l hợp pháp; C ng nhận phần nh đất ó diện tí h 49,5m2 thuộ một phần thửa đất số 299b, tờ bản đồ số 10 tọa lạ tại khu phố B 3, phƣờng A, thị xã D, tỉnh ình Dƣơng theo iấy hứng nhận quyền sử dụng đất số v o sổ cấp giấy chứng nhận 929QSDĐ/AB ngày 14/5/2003 mà bà K nhận huyển nhƣợng quyền sử dụng đất từ ng Nguyễn C ng T v b

Thị ến C là tài sản hợp pháp của bà K nên Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết yêu cầu trên đồng thời không xác định bà Nguyễn Thị K là nguyên đơn trong vụ án nhƣ đã phân tích.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát về việc giải quyết vụ án có cơ sở chấp nhận. Từ những phân tích trên, xét yêu cầu độc lập của anh Chung Anh G, chị Võ Thị Mỹ X l ó ăn ứ nên chấp nhận.

Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Tại phiên tòa chị Võ Thị Mỹ X tự nguyện chịu 3.030.000 (ba triệu không trăm ba mƣơi ngàn) đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạ v định giá tài sản. Do vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí Dân sự sơ thẩm: Chị Võ Thị Mỹ X tự nguyện chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn ứ á Điều 144, 147, 157, 165, Điều 217, 218, 227, 228, 238, 244, 245, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn ứ các Điều 691, 705 đến Điều 709; Điều 711 đến 713 của Bộ luật Dân sự 1995; Căn ứ các Điều 697, 698, 699, 700, 701 v Điều 702 của Bộ luật Dân sự 2005; Điều 129 và Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 02/2004/NQ- ĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao.

Căn ứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326 2016 U T Q 14 ng y 30 tháng 12 năm 2016 ủa Ủy ban thƣờng vụ Quố hội quy định về mứ thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án.

1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị K đối với ông Nguyễn Công T và bà Hà Thị Yến C về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất.

2. Chấp nhận yêu ầu độc lập ủa anh Chung Anh G, chị Võ Thị Mỹ X đối với bà Nguyễn Thị K về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất .

2.1. Công nhận hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị K và ông Nguyễn Công T, bà Hà Thị Yến C thể hiện bằng giấy cam kết ngày 01/3/2004 là hợp pháp.

2.2. Công nhận hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất giữa anh Chung Anh G với bà Nguyễn Thị K thể hiện bằng giấy cam kết mua bán nhà ngày 30/11/2010 là hợp pháp. Anh Chung Anh G, chị Võ Thị Mỹ X đƣợc quyền sở hữu diện tí h đất 49,5m2 và tài sản gắn liền với đất thuộc một phần thửa 299b, tờ bản đồ số 10 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận 929QSDĐ/AB ngày 14/5/2003. Đất tọa lạc tại khu phố B 3, phƣờng A, thị xã D, tỉnh ình Dƣơng, (Có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

2.3. Anh G và chị X ó nghĩa vụ làm thủ tụ đăng ký kê khai với ơ quan ó thẩm quyền đối với phần diện đất đƣợc công nhận để đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng theo quy định về pháp luật đất đai.

3. Về chi phí tố tụng và án phí sơ thẩm: Anh G và chị X tự nguyện chịu 3.030.000 (ba triệu không trăm ba mƣơi ngàn) đồng, tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạ v định giá tài sản. Bà Nguyễn Thị K đã tạm ứng số tiền 3.030.000 đồng nên anh G và chị X phải nộp 3.030.000 đồng để hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị K.

4. Về án phí: Chị Võ Thị Mỹ X tự nguyện chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho bà Nguyễn Thị K 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0028137 ngày 03/3/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã D, tỉnh ình Dƣơng.

5. Đƣơng sự có mặt có quyền kháng áo trong hạn 15 ng y kể từ ng y tuyên án, đƣơng sự vắng mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợ thi h nh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại á Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi h nh án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ