- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị T tranh chấp tài sản Trần Văn T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần y u cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với ông Trần Văn T về việc y u cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ TH A TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2019/DS-ST Ngày: 14/8/2019 “V/v tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NH N D N HUYỆN THỦ TH A
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Đăng Tuyết Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Bùi Mạnh Quyết
2/ Ông Trần Văn Nhị
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thúy An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Th a.
i di n vi n ki m sát nhân dân huy n Thủ Th a tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thoa- Ki m sát vi n
Ngày 14 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở T a án nhân dân huyện Thủ Th a mở phi n t a xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 116/2019/TLST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2019 về việc “Tranh chấp y u cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2019/QĐST-DS ngày 30 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguy n đơn: bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1963. Địa chỉ: Số 11/205 A Khu phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh A.
2. Bị đơn: ông Trần Văn T, sinh năm: 1957. Địa chỉ: Ấp 5, xã T, huyện T, tỉnh A.
3. Người làm chứng: ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1972. Địa chỉ: Ấp 5, xã T, huyện T, tỉnh A.
(Các b n đương sự đều có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi ki n đề ngày 05/3/2019, trong quá trình tố tụng và t i phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: Vào ngày 21/11/2018 (al) bà T vào thăm ruộng của bà ở ấp 5 xã Tân Thành, huyện Thủ Th a, tỉnh Long An thì phát hiện tràm lanh do bà trồng bị chặt 02 cây chỉ c n 02 gốc, sang ngày 22/11/2018 (al) bà T gởi đơn thưa ở UBND xã Tân Thành có ông Được là phó Công an xã xuống điều tra trực tiếp gặp em trai bà là ông Nguyễn Văn T đến tại hiện trường thì không thấy 02 cây tràm lanh, đồng thời phát hiện th m bờ sả bà T trồng có ngang là 01 bụi sả và dài là 120 m đã bị xịt thuốc cháy, bà T khẳng định bờ sả bị cháy là do ông T trực tiếp cầm bình xịt thuốc cháy bờ sả của bà. Qua điều tra của Công an xã Tân Thành thì ông Trần Văn T đã th a nhận có đốn 02 cây tràm lanh, do đó bà T y u cầu ông T bồi thường 02 cây tràm lanh bị đốn trị giá là 1.500.000đồng và bờ sả do ông T xịt thuốc cháy hư hại trị giá là 400.000đồng, không y u cầu gì khác. Việc ông T nói có thông báo cho bà chặt 02 cây tràm lanh là không có.
Bị đơn: ông Trần Văn T, trình bày: Ông T xác định có chặt 02 cây tràm lanh của bà Nguyễn Thị T lý do trước khi chặt đã có thông báo cho bà T 01 lần, ông Nguyễn Văn T em bà T 02 lần nhưng không được đáp ứng y u cầu n n gia đình ông bức xúc trong việc tràm lanh ngã qua rụng lá và cây đè l n lúa ruộng của ông, vác lúa không được và máy cày không vào được n n ông T mới thu người chặt 02 cây tràm lanh của bà T cho ngã nằm b n đường mương nước đất ông T cho đến nay. Nay bà T khởi kiện y u cầu bồi thường 02 cây tràm lanh ông không đồng ý vì 02 cây tràm lanh vẫn c n đó, c n bờ sả bà T cho là ông xịt thuốc cháy bờ sả của bà T ông không đồng ý vì ông không xịt thuốc gì cả.
T a án nhân dân huyện Thủ Th a đã tiến hành h a giải nhưng không thành.
Tại phiên tòa, nguy n đơn khởi kiện vẫn giữ nguy n y u cầu khởi kiện buộc ông Trần Văn T bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm là 02 cây tràm lanh bị đốn trị giá là 1.500.000đồng và bờ sả do ông T xịt thuốc cháy hư hại trị giá là 400.000 đồng.
Ông Trần Văn T không đồng ý y u cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.
Đại diện Viện ki m sát nhân dân huyện Thủ Th a, tỉnh Long An phát bi u: T a án đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp và đúng tư cách các đương sự, việc giải quyết vụ án đúng thời hạn quy định. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã tuân theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ. Về nội dung: Đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguy n đơn về thiệt hại tài sản là 02 cây tràm lanh căn cứ vào kết quả định giá đ xác định theo y u cầu của bà T tại phi n t a, không chấp nhận y u cầu bồi thường thiệt hại bờ sả do tại phi n t a bà T vẫn không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc ông T xịt thuốc làm cháy.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghi n cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phi n t a và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phi n t a, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: bà Nguyễn Thị T khởi kiện y u cầu ông Trần Văn T bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm với tổng số tiền 1.900.000đồng. Đây là quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự n n theo quy định tại Khoản 6 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp tr n thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ đi m a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về thẩm quyền của T a án nhân dân cấp huyện; đi m a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về thẩm quyền của T a án theo lãnh thổ thì tranh chấp tr n thuộc thẩm quyền thụ lý giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủ Th a.
Về nội dung và y u cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại bi n bản h a giải và tại phi n t a bà T, ông T đều xác định và th a nhận 02 cây tràm lanh bị chặt vào ngày 21/11/2018 (al) là do ông T thu người chặt phù hợp với bi n bản giải quyết của UBND xã Tân Thành ngày 09/01/2019. Quá trình h a giải sự việc tại T a án, bà T y u cầu ông T bồi thường 02 cây tràm lanh bị đốn trị giá là 1.500.000đồng, về phía ông T xác định có chặt 02 cây tràm lanh của bà T lý do trước khi chặt đã có thông báo cho bà T 01 lần và ông Nguyễn Văn T em bà T 02 lần nhưng không được đáp ứng, n n gia đình ông T bức xúc trong việc tràm lanh ngã qua rụng lá và cây đè l n lúa ruộng của ông, vác lúa không được và máy cày không vào được n n ông T mới thu người chặt 02 cây tràm lanh của bà T cho nằm b n đường mương nước phần đất lúa của ông T. Xét thấy, sự việc xảy ra xuất phát t cái tôi của mỗi người không có tiếng nói chung, chỉ vì 02 cây tràm lanh mà đánh đồng mất đi cái tình làng nghĩa xóm, hai b n không thống nhất được giá trị của 02 cây tràm lanh. Tại bi n bản định giá tài sản ngày 06/6/2019 do Tòa án nhân dân huyện Thủ Th a thành lập Hội đồng định giá đối với 02 cây tràm lanh (loại A) có đơn giá là 80.000đồng/cây và bụi sả thuộc nhóm rau trồng các loại có giá 30.000đồng/m2 x 60 m2 (120 m x 0, 5 m) = 1.800.000đồng. Tại phi n t a bà T đồng ý theo bi n bản định giá tài sản ngày 06/6/2019 với tổng trị giá tài sản được định là 1.960.000đồng (gồm cây tràm bông vàng loại A + bụi sả thuộc nhóm rau trồng) như vậy đối với y u cầu bà T đ i bồi thường 02 cây tràm lanh bị đốn trị giá là 1.500.000đồng là không có căn cứ. Hội đồng xét xử, xét thấy y u cầu của bà T chỉ được chấp nhận một phần đối với 02 cây tràm lanh theo giá mà Hội đồng định giá đã định là 80.000đồng/cây x 02 cây = 160.000đồng phù hợp với việc điều tra xác minh của T a án về công dụng và chất lượng của loại tràm lanh được người dân địa phương cho biết tác dụng chỉ te là xay ra bột đ làm ván ép, hoặc chỉ làm chân của bàn tr n, hoặc có làm tủ-bàn chỉ sử dụng trong thời gian ngắn.
Đối với y u cầu bồi thường bờ sả bà T cho rằng do ông T xịt thuốc cháy hư hại trị giá là 400.000đồng, y u cầu này của bà T không được ông Trần Văn T chấp nhận vì ông không xịt thuốc gì ảnh hưởng đến bờ sả của bà T. Quá trình h a giải tại T a án cũng như tại phi n t a bà T một mực khẳng định bờ sả bà trồng bị cháy là do ông T xịt thuốc ruộng của ông, bà T cho rằng trong khi xịt thuốc ông T đưa cần xịt thuốc cao n n ảnh hưởng qua bờ sả bà trồng, li n tục đã 02 năm đến năm nay là năm thứ ba ông T làm hư hỏng thiệt hại tài sản của bà n n phải bồi thường cho bà. Sự việc này bà T cho rằng có ông Nguyễn Văn T là em ruột của bà được bà giao trông coi rãi phân, xịt thuốc và dọn mương tháo nước dùm, tại phi n t a ông Tám xác định bờ sả bà T trồng tr n bờ chung và trồng phía hướng đất bà T ngang tính khoảng t 4-5 tấc dài 120 m, việc ông T xịt thuốc b n đất ông T theo ông Tám nghĩ đã làm ảnh hưởng bờ sả của bà T chứ thực chất ông không thấy cũng như không chứng kiến ông T hay ai làm hư sả trồng của bà T.
T những nhận định tr n đây, Hội đồng xét xử xét thấy y u cầu khởi kiện của bà T là có căn cứ chấp nhận 1 phần như đề nghị của đại diện Viện Ki m sát nhân dân huyện Thủ Th a. Buộc ông Trần Văn T phải bồi thường tài sản cho bà Nguyễn Thị T là 02 cây tràm lanh theo giá mà Hội đồng định giá đã định là 80.000đồng/cây x 02 = 160.000đồng phù hợp với điều 589 Bộ luật Dân sự 2015. Đối với y u cầu bồi thường thiệt hại bờ sả, bà T không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh n n Hội đồng xét xử không chấp nhận y u cầu này.
Về chi phí thẩm định, định giá cho việc tranh chấp bà T đã tạm ứng là 800.000 đồng, y u cầu của bà T được chấp nhận một phần vì vậy khoản chi phí này mỗi b n chịu ½, do đó ông T có trách nhiệm hoàn trả cho bà T số tiền 400.000đồng.
Về án phí: tại phi n t a ông Trần Văn T xác định hiện ông đã 62 tuổi và ông cũng có nhu cầu xin miễn tiền án phí, như vậy ông T thuộc diện người cao tuổi được quy định tại Đi m đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án n n ông T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tr n phần y u cầu không được chấp nhận.
Vì các lẽ tr n,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 584, Điều 585, Điều 588, Điều 589 Bộ luật Dân sự; Đi m đ Khoản 1 Điều 12, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án.
-Tuy n xử:
1.Chấp nhận một phần y u cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với ông Trần Văn T về việc y u cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm.
Buộc ông Trần Văn T có nghĩa vụ bồi thường cho bà Nguyễn Thị T 02 cây tràm lanh trị giá thành tiền là 160.000đồng (một trăm sáu mươi nghìn đồng).
Buộc ông Trần Văn T có trách nhiệm hoàn trả tiền chi phí thẩm định, định giá cho bà Nguyễn Thị T số tiền 400.000đồng (bốn trăm nghìn đồng).
Buộc bà Nguyễn Thị T phải chịu chi phí thẩm định, định giá số tiền là 400.000đồng (bốn trăm nghìn đồng) đã nộp xong.
K t ngày có đơn y u cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi b n phải thi hành án thi hành xong khoản tiền tr n, hàng tháng b n phải thi hành án c n phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2.Không chấp nhận một phần y u cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T buộc ông Trần Văn T bồi thường thiệt hại tài sản là bờ sả.
Về án phí: ông Trần Văn T không phải chịu áp phí Dân sự sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị T phải chịu nộp 300.000đồng tiền án phí Dân sự sơ thẩm phần y u cầu không được chấp nhận sung vào công quỹ Nhà nước, nhưng được khấu tr 300.000đồng tiền tạm ứng án phí Dân sự sơ thẩm bà Nguyễn Thị T nộp ngày 16/4/2019 theo bi n lai số 0001851 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Th a, tỉnh Long An sang án phí Dân sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày k t ngày tuy n án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền y u cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
*Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Thủ Th a; - Chi cục THADS huyện Thủ Th a; - Các đương sự; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Đăng Tuyết Hồng. |