vanban.org

Bản án 59/2018/ST-HS — Hình sự

TAND huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 26/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Trung H phạm tội: Trộm cắp tài sản.

Xử phạt Phan Trung H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/5/2018. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo Phan Trung H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Trung H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Trung H phạm tội: Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59 /2018/HS - ST
Ngày 26 - 9 – 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Đức Việt và bà Lò Thị Le.

- Thư ký phiên toà: Ông Hà Văn Thiết - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Đôn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tò a á n nhân dân huyệ n Yên Châu , tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2018/TLST-HS ngày 30/8/2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2018/QĐXXST-HS ngày 10/9/2018 đối với bị cáo:

Phan Trung H, sinh năm 1991; trú tại: Tiểu khu B, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; trình độ văn hoá (Học vấn): 12/12; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: Không; quốc tịch: Việt Nam, con ông Phan Bùi T (Đã chết) và con bà Chu Thị H, sinh năm 1971, trú tại: Tiểu khu B, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Sơn La; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền sự: Không.

Tiền án: 03 tiền án.

Tại Bản án số: 39/2010/HSST ngày 21/7/2010 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Sơn La xử phạt 04 tháng 12 ngày tù giam về tội trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại Bản án số: 290/2012/HSST ngày 27/9/2012 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại bản án số: 49/2015/HSST ngày 28/8/2015 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Sơn La xử phạt 36 tháng tù giam về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, theo điểm đ khoản 2 Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999.

Ngày 22/10/2015 Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm như đã tuyên với bị cáo Phan Trung H.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2018 cho đến nay có mặt tại phiên toà.

Người bị hại: Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1973, trú tại: Tiểu khu C, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Sơn La. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Trung H khai nhận, sáng ngày 26/5/2018, Phan Trung H đến quán game Tịnh V thuộc tiểu khu 4, thị trấn Y, huyện Y chơi điện tử. Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi chơi game xong H đi bộ sang nhà Đỗ Văn T, trú tại: Tiểu khu C, thị trấn Y, huyện Y chơi. H đi vào nhà thấy T đang ngủ ở trong phòng nên H quay ra phòng khách thấy chiếc điện thoại Iphone 6S Plus, màu vàng Gold để trên ghế. H nẩy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại của T bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Quan sát xung quanh không có ai, H đi đến vị trí chiếc điện thoại lấy chiếc điện thoại cất giấu vào trong túi quần rồi đi bộ đến ngã tư thị trấn Y, huyện Y bắt xe khách xuống huyện M, tỉnh Sơn La tìm quán bán chiếc điện thoại để lấy tiền chi tiêu cá nhân. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, khi H đi đến tiểu khu 4, thị trấn M thì Công an huyện Y và Công an huyện M, tỉnh Sơn La yêu cầu đến Công an huyện M để làm việc. Quá trình làm việc, Phan Trung H đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản (Điện thoại) của Đỗ Văn T. Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, loại máy 6S Plus 16 GB, màu vàng Gold.

Ngày 27/5/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y ra yêu cầu định giá tài sản số: 528, yêu cầu của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y định giá: 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, loại máy 6S Plus 16GB, màu Gold, mua mới tháng 3 năm 2018 đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 19/HĐĐG ngày 28/5/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y kết luận: Giá trị điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, loại máy 6S Plus 16GB, màu Gold, được mua mới tháng 3 năm 2018 bị mất trộm còn 91,66% giá trị là 11.000.000đ (Mười một triệu đồng).

Đối với bị hại ông Đỗ Văn T đã nhận được tài sản là 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, loại máy 6S Plus 16GB, màu vàng Gold nên không đề nghị bị cáo bồi thường gì thêm. Do đó, phần trách nhiệm dân sự không đề cập trong vụ án.

Tại cáo trạng số: 46/CT-VKSYC ngày 30/8/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Phan Trung H ra xét xử trước Tòa án nhân dân huyện Y về tội: Trộm cắp tài sản, theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Phan Trung H. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Trung H phạm tội: Trộm cắp tài sản.

- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Phan Trung H từ 24 (Hai mươi bốn) tháng đến 30 (Ba mươi) tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản.

- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

- Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận việc cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã trả lại tài sản là 01 chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, loại máy 6S Plus 16GB, màu Gold cho bị hại ông Đỗ Văn T.

- Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc bị hại ông Đỗ Văn T không yêu cầu bị cáo Phan Trung H phải có trách nhiệm bồi thường thêm khoản tiền nào khác.

- Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị bị cáo Phan Trung H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát và có lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2 Về tội danh:

Tại phiên tòa bị cáo Phan Trung H khai nhận toàn bộ hà nh vi phạ m tộ i củ a mình, như đã khai tại cơ quan điề u tra đã thực hiện vụ trộm cắp tài sản . Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi, bị cáo không khai gì thêm so với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phan Trung H giữ nguyên lời khai của mình tại cơ quan điều tra Công an huyện Y, bị cáo không thay đổi, bổ sung gì thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội mà bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y đã nêu.

Xét thấy lời khai của bị cáo hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả của Hội đồng định giá tài sản, lời khai của bị hại trong vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để khẳng định: Bị cáo do ham chơi, lười lao động, muốn có tiền chi tiêu cho bản thân, vào khoảng 14 giờ ngày 26/5/2018 bị cáo Phan Trung H đã lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của bị hại Đỗ Văn T đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại máy 6S Plus 16GB có trị giá là 11.000.000đ (Mười một triệu đồng).

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản 01 điện thoại di động có tổng trị giá là 11.000.000đ (Mười một triệu đồng ) của bị cáo Phan Trung H đã đủ yếu tố cấu thành tội: “ Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Phan Trung H đã bị xét xử trong trường hợp tái phạm nguy hiểm, nay lại phạm tội. Bị cáo phạm tội trong trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu truy tố các bị cáo Phan Trung H ra xét xử trước Tòa án nhân dân huyện Y về tội trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo là người có hiểu biết, có nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, hành vi lợi dụng sự sơ hở của chủ tài sản, lợi dụng lúc chủ sở hữu tài sản đang ngủ bị cáo H đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác như vậy là trái pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng do thích hưởng thụ mà không muốn lao động, sống buông thả mình dẫn đến phạm tội. Bị cáo phạm tội tuy không có sự chuẩn bị trước, nhưng khi thấy người quản lý tài sản sơ hở, bị cáo đã nẩy sinh ý định phạm tội và thực hiện tội phạm rất tích cực, thực hiện phạm tội đến cùng. Bị cáo phạm tội đã làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội ở địa phương, gây lo lắng bất bình trong quần chúng nhân dân, làm cho nhân dân hoang mang lo lắng.

Đối với mức độ phạm tội của bị cáo đã nêu trên, cần có mức phạt thỏa đáng với hành vi vi phạm mà bị cáo đã gây ra cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo cải tạo bản thân thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ quy định trong Bộ luật hình sự để có mức hình phạt thỏa đáng.

Về tiền án, bị cáo Phan Trung H 03 tiền án: Năm 2010 bị Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Sơn La xử phạt 04 tháng 12 ngày tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Năm 2012 bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Sơn La xử phạt 36 tháng tù giam về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Bị cáo Phan Trung H có 03 tiền án nhưng đã được áp dụng tình tiết định khung hình phạt nên không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Phan Trung H thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

3 Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 BLHS quy định: “Người nào phạm tội có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”. Căn cứ vào biên bản xác minh tài sản do Công an huyện Y cũng như lời trình bày của bị cáo trước phiên tòa, bị cáo không có tài sản gì, do đó cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

4 Về vật chứng vụ án: Chấp nhận việc cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã trả lại tài sản 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, loại máy 6S Plus 16GB, màu Gold cho người bị hại ông Đỗ Văn T.

5 𝑉ề trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc bị hại ông Đỗ Văn T đã nhận được điện thoại và không yêu cầu bị cáo Phan Trung H phải có trách nhiệm bồi thường về dân sự.

6 Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Phan Trung H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

1. Tuyên bố bị cáo Phan Trung H phạm tội: Trộm cắp tài sản.

Xử phạt Phan Trung H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/5/2018.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo Phan Trung H.

2. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc bị hại ông Đỗ Văn T đã nhận được điện thoại và không yêu cầu bị cáo Phan Trung H phải có trách nhiệm bồi thường về dân sự.

3. Về vật chứng vụ án: Chấp nhận việc cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu đã trả lại tài sản 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, loại máy 6S Plus 16GB, màu Gold cho ông Đỗ Văn T.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo Phan Trung H phải nộp tiền án phí sơ thẩm hình sự là 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ