vanban.org

Bản án 59/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên Tuyên án 24/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Khắc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Khắc T 2 (hai) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 26/4/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Khắc T trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Khắc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TUY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 59/2018/HSST
Ngày : 24/10/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thúy Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Trọng Khá và ông Huỳnh Khắc Hiếu

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Nguyệt – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: Ông Biện Tấn Hoàng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 23 và 24 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 55/2018/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Khắc T – sinh năm 1996. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã B, thành phố T, Phú Yên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Khắc C, sinh năm 1977 và con bà Cao Thị Tuyết M, sinh năm 1980; Tiền sự: Không. Tiền án: Ngày 22/12/2014, bị Toà án nhân dân thành phố T xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 127/2014/HSST; Ngày 06/02/2015, bị Toà án nhân dân thành phố T xử phạt 09 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", tổng hợp hình phạt số 127/2014/HSST buộc bị cáo chấp hình phạt chung 01 năm 03 tháng tù; Ngày 11/02/2015 bị Toà án nhân dân thành phố T xử phạt 09 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" tại Quyết định tổng hợp hình phạt số 02/QĐ-THHP-CA ngày 12/3/2015 của Toà án nhân dân thành phố T buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung 02 năm tù; Ngày 30/9/2015, bị Toà án nhân dân thành phố T xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tổng hợp hình phạt tại Quyết định số 02/QĐ-THHP-CA ngày 12/3/2015, Toà án nhân dân thành phố T buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung 02 năm 09 tháng tù. Chấp hành xong án phạt tù ngày 16/5/2017.

Bị cáo bị tạm giam ngày 26/4/2018. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

- 2 -

1. Phan Đức T, sinh năm 1977; Huỳnh Thị L, sinh năm 1980; Cùng địa chỉ: Khu phố B, phường P, thành phố T, Phú Yên. Bà L ủy quyền cho ông Phan Đức T tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Ông Phan Đức T có mặt tại phiên tòa.

2. Trần Văn Tr, sinh năm 1970; Địa chỉ: đường N, phường N, thành phố T, Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Phan Văn V, sinh năm 1996; Địa chỉ: Khu phố B, phường P, thành phố T, Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.

2. Đặng Văn H, sinh năm 1989; Địa chỉ: Khu phố B, phường P, thành phố T, Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa.

3. Huỳnh Đình M, sinh năm 1992; Địa chỉ: Khu phố B, phường P, thành phố T, Phú Yên. Xin xét xử vắng mặt.

4. NLC4, sinh năm 2000; Địa chỉ: Khu phố B, phường P, thành phố T, Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.

5. NLC5, sinh năm 1993; Địa chỉ: Khu phố M, phường P, thành phố T, Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.

6. NLC6, sinh năm 1962; Địa chỉ: Khu phố M, phường P, thành phố T, Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.

7. NLC7, sinh năm 1985; Địa chỉ: Khu phố L, thị trấn L, huyện Đ, Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.

8. NLC8, sinh năm 1990; Địa chỉ: đường N, phường N, thành phố T, Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.

9. NLC9, sinh năm 1991; Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện T, Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Nguyễn Khắc T bị Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 14 giờ ngày 18/4/2018, Nguyễn Khắc T đi xe ôm xuống phường N, thành phố T. Khi đi qua nhà anh Trần Văn Tr, thấy mở cửa, trong nhà không có ai nên T vào phòng khách lấy trộm 01 chiếc tivi hiệu TCL màu đen, màn hình phẳng 43 inch mang ra ngoài và nói với xe ôm là ti vi của cô đem đi sửa. Khi đi đến gần chợ X thuộc xã B, thành phố T thì bị anh NLC9 yêu cầu dừng xe lại, T bỏ tivi lại và bảo xe ôm bỏ chạy.

Tại bản kết luân định giá tài sản ngày 30/5/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận 01 tivi nhãn hiệu TCL, màu đen, màn hình phẳng 43 inch, đời máy L43S6000 trị giá 2.500.000 đồng.

- 3 -

Vụ thứ hai: Khoảng 12 giờ 45 phút ngày 26/4/2018, Nguyễn Khắc T cùng 01 thanh niên (chưa rõ lai lịch) đi xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu trắng (không rõ biển số) đến phường Phú Thạnh, thành phố Tuy Hoà. Khi đi qua nhà anh Phan Đức T thấy trong sân nhà có dựng xe mô tô nhãn hiệu Air Blade F1, màu trắng xám, biển số 78C1-nnn.nn nên T vào dắt trộm xe mô tô nói trên, khi T đang dắt xe quay đầu ra hướng cổng thì bị anh Phan Văn V phát hiện hô “trộm, trộm” thì người thanh niên đi cùng xe máy tẩu thoát, còn T bỏ chạy về hướng Đông của đường Thăng Long thì anh V, anh Huỳnh Đình M và anh Đặng Văn H đuổi theo đến chợ Hầm nước thì bắt giữ được T, sự việc được lập biên bản phạm tội quả tang.

Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 26/4/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T xác định: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Air Blade F1 biển số 78C1-nnn.nn màu trắng xám, trị giá 24.000.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

Đã thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu:

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda lại Air Blade biển số 78C1-nnn.nn

- 01 tivi hiệu TCL, màu đen, màn hình phẳng 43 inch

- 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe mang tên Lâm Quốc L

- 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 78E1-nnn.nn mang tên Lâm Thị Hồng Đ

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và giấy tờ nên không có yêu cầu gì.

Tại bản cáo trạng số 50/VKS-HS ngày 7 tháng 8 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Khắc T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo qui định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa

Kiểm sát viên kết luận vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm g, h khoản 1 Điều 52 BLHS 2015 xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 26/4/2018; Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

Bị cáo Nguyễn Khắc T không đồng ý với cáo trạng truy tố, bị cáo thừa nhận có thực hiện hành vi trộm cắp ngày 18/4/2018 nhưng không thừa nhận có thực hiện hành vi trộm cắp ngày 26/4/2018, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét.

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

- 4 -

XÉT THẤY

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tuy Hòa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Khắc T khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp ngày 18/4/2018 tại nhà anh Trần Văn Tr 01 chiếc tivi hiệu TCL màu đen, màn hình phẳng 43 inch trị giá 2.500.000 đồng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, biên bản thực nghiệm điều tra về thời gian, địa điểm, nguyên nhân, động cơ và mục đích phạm tội và phù hợp với các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa.

Bị cáo không thừa nhận có thực hiện hành vi trộm cắp ngày 26/4/2018 tại nhà anh Phan Đức T chiếc xe mô tô nhãn hiệu Air Blade F1, màu trắng xám, biển số 78C1-nnn.nn trị giá 24.000.000 đồng như bản cáo trạng đã truy tố. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tiến hành thẩm tra, đối chất giữa bị cáo, người bị hại, người làm chứng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, phù hợp với bản ảnh hiện trường về thời gian, địa điểm, mục đích phạm tội và phù hợp với các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa, do đó đủ căn cứ vững chắc để xác định bị cáo Nguyễn Khắc T đã thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Air Blade F1, màu trắng xám, biển số 78C1-nnn.nn trị giá 24.000.000 đồng vào ngày 26/4/2018 tại nhà anh Phan Đức T.

Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo đã có hành vi trộm cắp cụ thể như sau: Khoảng 14 giờ ngày 18/4/2018, bị cáo Nguyễn Khắc T đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc tivi hiệu TCL màu đen, màn hình phẳng 43 inch của anh Trần Văn Tr trị giá 2.500.000 đồng và khoảng 12 giờ 45 phút ngày 26/4/2018, bị cáo Nguyễn Khắc T đã có hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Air Blade F1, màu trắng xám, biển số 78C1-nnn.nn của anh Phan Đức T và chị Huỳnh Thị Toán trị giá 24.000.000 đồng thì bị bắt quả tang như cáo trạng của viện kiểm sát thành phố Tuy Hòa truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

- 5 -

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã xâm phạm đến tài sản của người khác trái pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự - trị an xã hội ở địa phương nên cần xử phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Bị cáo là người trưởng thành có khả năng lao động nhưng không chịu chí thú làm ăn mà lợi dụng sự sơ hở của người khác để thực hiện hành vi trộm cắp. Bị cáo có nhiều tiền án về hành vi trộm cắp tài sản, chưa được xoá án tích và hai lần thực hiện hành vi trộm cắp nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo và cách ly ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã khai nhận và thấy ăn năn, hối cải đối với hành vi trộm cắp 01 chiếc tivi hiệu TCL màu đen, màn hình phẳng 43 inch của anh Trần Văn Tr trị giá 2.500.000 đồng. Do đó cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng của vụ án: Đã trả lại cho người bị hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Khắc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Khắc T 2 (hai) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 26/4/2018.

Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Khắc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ