vanban.org

Bản án 59/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 25/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Khắc S, Nguyễn Chí T2, Nguyễn Duy T1, Nguyễn Huy Thành H đều phạm tội "Cố ý gây thương tích”.

1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; BLHS, Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/06/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T cùng đồng phạm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Khắc S, Nguyễn Chí T2, Nguyễn Duy T1, Nguyễn Huy Thành H đều phạm tội "Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2018/HSST
Ngày: 25/9/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N- TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Phiếu.

Ông Tạ Khắc Nghĩa.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Trung, Thư ký - Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N- tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Duy, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 62/2018/HSST ngày 23 tháng 8 năm 2018; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2018/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2018, đối với các bị cáo:

1. Họ và Tên: Nguyễn Văn T, (tên gọi khác: Không).

Sinh năm 1990, tại G - Ninh Bình; Trú tại: xóm 9, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Văn V và bà Trần Thị D; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: chưa có.

Lịch sử bản thân: ngày 14/7/2014 Công an huyện G xử phạt hành chính 700.000đ về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.

Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 11/06/2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình, (Có mặt).

2. Họ và Tên: Nguyễn Khắc S, (tên gọi khác: Không).

Sinh năm 1991, tại G - Ninh Bình; Trú tại: xóm 8, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Trình độ văn hoá: 08/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Khắc P và bà Nguyễn Thị D; Gia đình có 06 anh em, bị cáo là con thứ S; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án: chưa có.

Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 29 ngày 12/01/2017 của Công an huyện G, tỉnh Ninh Bình xử phạt Nguyễn Khắc S 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác”.

Lịch sử bản thân:

- Ngày 31/5/2002 Công an huyện G xử phạt hành chính 1.000.000đ về hành vi “Đánh bạc”.

- Ngày 29/02/2012 Tòa án nhân dân huyện G xử phạt 4.000.000đ về tội “Đánh bạc”.

- Ngày 05/8/2014 Công an huyện G xử phạt hành chính 1.500.000đ về hành vi “Đánh bạc”.

Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 11/06/2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình, (Có mặt).

3. Họ và Tên: Nguyễn Duy T1, (tên gọi khác: Không).

Sinh năm 1993, tại G - Ninh Bình; Trú tại: xóm 8, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Duy C và bà Nguyễn Thị Đ; Vợ: Bùi Thị H; Con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: chưa có.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, (Có mặt).

4. Họ và Tên: Nguyễn Chí T2, (tên gọi khác: Không).

Sinh năm 1998, tại G - Ninh Bình; Trú tại: xóm 9, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Xuân H và bà Phạm Thị T; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: chưa có.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, (Có mặt).

5. Họ và Tên: Nguyễn Huy Thành H, (tên gọi khác: Không).

Sinh năm 1993, tại G - Ninh Bình; Trú tại: xóm 8, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Trình độ văn hoá: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: chưa có.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, (Có mặt).

Người bị hại: anh Đào Xuân P, sinh năm 1987. Trú tại: Q 3, xã S, huyện N, tỉnh Ninh Bình, (Có mặt).

Người làm chứng:

- Chị Nguyễn Thị Huyền T3, (Vắng mặt).

- Chị Đào Thị H1, (Vắng mặt).

- Anh Nguyễn Quốc T4, (Vắng mặt).

- Anh Bùi Ngọc H2, (Vắng mặt).

- Anh Đinh Văn K, (Vắng mặt).

- Chị Dương Thị Đ, (Vắng mặt).

- Anh Nguyễn Quốc K1, (Có mặt).

- Anh Nguyễn Duy T5, (Có mặt).

- Anh Nguyễn Văn Đ1, (Có mặt).

- Anh Vũ Quang N, (Có mặt)

- Chị Bùi Thị Lan A, (Có mặt).

- Bà Đinh Thị T6, (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 16/04/2018 Nguyễn Huy Thành H tổ chức sinh nhật đã mời một số bạn bè, trong đó có Nguyễn Văn T, Nguyễn Khắc S, Nguyễn Duy T1, Nguyễn Chí T2, anh Nguyễn Quốc K1 trú tại xóm 8, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình và một người nam thanh niên tên Tuấn (là bạn của T) cùng nhau đến hát tại phòng số 3 quán Karaoke P T ở thôn Q 3, xã S, huyện N do anh Đào Xuân P sinh năm 1987 làm chủ quán. Khi mọi người đang hát được khoảng 15 phút lúc này Nguyễn Khắc S ra ngoài xin anh P số điện thoại của nhân viên phục vụ nữ tên “Trinh” để ngồi hát cùng nhưng anh P không cho nên S bực tức đi vào phòng hát bảo mọi người ra về không hát nữa. Trong khi Nguyễn Huy Thành H ra quầy thanh toán tiền hát với anh P để ra về thì Nguyễn Văn T đi qua nói: “Phòng hát như cái chuồng lợn” anh P nghe thấy nói: “Đ.M con lợn nào bảo phòng hát như cái chuồng lợn”, do lúc này T mải nghe điện thoại nên không nghe thấy anh P chửi mình, sau đó mọi người ra về. Khi Nguyễn Văn T, Nguyễn Khắc S, Nguyễn Duy T1, Nguyễn Chí T2, Nguyễn Huy Thành H, Tuấn (bạn T) và anh Nguyễn Quốc K1 đi xe mô tô về đến khu vực ngã 3 A, thuộc xã Quỳnh Lưu, huyện N, do lúc này Nguyễn Khắc S vẫn bực tức anh P vì trước đó đã không cho S số điện thoại của nhân viên nên S nói với Nguyễn Văn T: “Ơ thằng P nó chửi bạn mà bạn không nói gì à” thì T bảo “Đ.M quay lại xem nó chửi cái gì”. Sau đó Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Duy T1, Nguyễn Chí T2 chở Nguyễn Khắc S, Tuấn (bạn T) chở anh Nguyễn Quốc K1, Nguyễn Huy Thành H đi xe mô tô cùng nhau quay lại quán hát nhà anh P.

Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm của T quay trở lại quán Karaoke Phong Thương nhà anh P, dựng xe mô tô trước cửa quán. Nguyễn Duy T1 và Nguyễn Chí T2 mỗi người nhặt 02 đoạn gậy gỗ dài khoảng hơn một mét ở đường trước cửa quán Karaoke rồi cùng T, S, Tuấn, H và anh K1 đi vào trong quán. Khi gặp anh P, Nguyễn Văn T nói:“Thằng kia lúc nãy mày chửi tao cái gì” và Nguyễn Khắc S nói:“Bạn ơi lúc nãy sao bạn chửi bạn tôi” thì anh P trả lời:“Chúng mày quay lại thích đánh nhau à” đồng thời anh P chạy vào trong phòng hát số 05 ở cuối hành lang trong phòng hát có các anh Đinh Văn K, Bùi Ngọc H2, Nguyễn Quốc T4 là bạn anh P đang ngồi hát, anh P gọi anh K, H2, T4 ra ngoài và bảo“Có đứa đánh tao” sau đó anh P ra ngoài và đi về phía cửa phòng hát số 3 nơi T, S, Tuấn đang đứng. Thấy anh P đi đến, Tuấn (bạn T) nhặt 02 vỏ chai bia sài gòn ở góc hành lang xông tới đánh anh P nhưng H và K1 đẩy ra nên Tuấn không đánh được anh P, anh P tiến lên phía trước thì Nguyễn Văn T nhặt 02 vỏ chai bia Hà Nội ở hành lang đập vào nhau làm cho phần đuôi của 02 vỏ chai bia bị vỡ ra tạo thành cạnh sắc nhọn rồi xông đến tấn công anh P nhưng được các anh K, Hải, T4 và K1 vào can ngăn nên T không gây thương tích gì cho anh P. Cùng lúc này, Nguyễn Khắc S đang đứng gần anh P đã lên gối 01 nhát trúng vào người anh P, Nguyễn Duy T1 cầm gậy gỗ vụt vào người anh P, Nguyễn Chí T2 cầm gậy gỗ vụt 01 nhát trúng vào đầu anh P khiến anh P bị thương rách da chảy máu. Do bị đánh anh P đã lùi lại thì anh Bùi Ngọc H2 can ngăn đẩy anh P vào phòng ngủ và đóng cửa lại. Lúc này Nguyễn Khắc S, Nguyễn Văn T đứng ở bên ngoài phòng ngủ tiếp tục chửi anh P, do tức giận nên anh P đã lấy tại cửa sổ phòng ngủ 02 chiếc dao (loại dao gọt hoa quả dài 20 cm, bản rộng 4 cm, lưỡi dao kim loại màu trắng, cán nhựa màu đen) mở cửa xông ra ngoài để đánh nhóm của Nguyễn Văn T. Khi anh P vừa ra ngoài thì Nguyễn Khắc S từ phía sau xông đến dùng tay ghì cổ anh P, bị S khống chế anh P đã dùng dao đâm ngược 01 nhát về phía sau trúng vào phần ngực bên trái của S làm S bị 01 vết thủng áo da xuyên vào bên trong làm xây sát da vùng ngực. Cùng lúc này Nguyễn Văn T xông đến gần anh P và đứng đối diện với anh P hai tay cầm 02 vỏ chai bia Hà Nội có cạnh sắc nhọn cùng một lúc tay bên phải T cầm vỏ chai bia vỡ đâm 01 nhát trúng vào“hông trái” của anh P; đồng thời tay bên trái T cầm vỏ chai bia vỡ đâm trúng cánh tay phải của anh P làm anh P bị thương. Đồng thời Nguyễn Duy T1, Nguyễn Chí T2 sử dụng gậy gỗ, Tuấn (bạn T) sử dụng 02 vỏ chai bia Sài Gòn, Nguyễn Huy Thành H sử dụng 01 gậy rút kim loại (dạng 3 khúc dài khoảng 80 cm) nhặt tại quán cùng nhau xông vào vụt nhiều nhát trúng vào người anh P, Nguyễn Khắc S đã bỏ anh P ra, lúc này anh P ngã sấp xuống nền đất. Sau đó cả nhóm của T không ai đánh anh P nữa, Nguyễn Duy T1, Nguyễn Chí T2 mỗi người cầm theo 2 đoạn gậy gỗ vừa đánh anh P đem ra vứt tại đường 12B ngay trước cửa quán Karaoke Phong Thương sau đó lên xe mô tô bỏ chạy.

Hậu quả: Anh Đào Xuân P bị 01 vết thương xạt da đỉnh đầu; 01 vết thương 1/3 trên trong cánh tay phải; 01 vết thương 1/3 trên sau cẳng tay phải; 01 vết thương mạn sườn trái thấu bụng thủng thanh cơ trực tràng được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình từ ngày 16/04/2018 đến ngày 02/05/2018 thì xuất viện.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 018/2018/ Th-GĐPY ngày 26/04/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Ninh Bình kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định: Vết xạt da đỉnh đầu; Vết thương 1/3 trên trong cánh tay phải; Vết thương 1/3 trên sau cẳng tay phải; Vết thương mạn sườn trái thấu bụng; Vết mổ trên dưới rốn.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 29 % (Hai mươi chín phần trăm).

3. Cơ chế hình thành thương tích: Các vết thương (tay phải và bụng) do vật sắc trực tiếp gây nên”.

Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Khắc S, Nguyễn Duy T1, Nguyễn Chí T2, Nguyễn Huy Thành H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận giám định số 018/2018/ Th-GĐPY ngày 26/04/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Khắc S, Nguyễn Duy T1, Nguyễn Chí T2, Nguyễn Huy Thành H đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” thuộc trường hợp “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ”.

- Tại bản cáo trạng số 57/CT-VKSNQ- HS ngày 21/8/2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Nđã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Khắc S, Nguyễn Duy T1, Nguyễn Chí T2, Nguyễn Huy Thành H về tội “Cố ý gây thương tích”; theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

*Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Khắc S.

- Xử phạt Nguyễn Văn T từ 30 đến 33 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để tạm giam 11/06/2018.

- Xử phạt Nguyễn Khắc S từ 27 đến 30 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để tạm giam 11/06/2018.

*Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 36 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Duy T1, Nguyễn Chí T2, Nguyễn Huy Thành H;

- Xử phạt Nguyễn Duy T1 từ 33 đến 36 tháng cải tạo không giam giữ.

- Xử phạt Nguyễn Chí T2 từ 33 đến 36 tháng cải tạo không giam giữ.

- Xử phạt Nguyễn Huy Thành H từ 33 đến 36 tháng cải tạo không giam giữ.

Giao các bị cáo Nguyễn Duy T1, Nguyễn Chí T2, Nguyễn Huy Thành H cho UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục. Gia đình các bị cáo trên có trách nhiệm phối hợp với UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian chấp hành án.

Khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo Nguyễn Duy T1, Nguyễn Chí T2, Nguyễn Huy Thành H từ 5% đến 7% hàng tháng để sung quỹ Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy 01 dao (loại dao gọt hoa quả dài 20 cm, bản rộng 4 cm, lưỡi dao kim loại màu trắng, cán nhựa màu đen); 01 đoạn gỗ KT (150x6)cm; 01 đoạn gỗ KT(191x8)cm; 01 đoạn gỗ KT(100x3)cm; 01 đoạn gỗ KT(116x7)cm; 01 hòn đá không rõ hình thù KT(21x12x8)cm, nhiều mảnh vỡ vỏ chai bia loại Hà Nội, Sài Gòn và 01 áo giả da nam màu đen đã qua sử dụng nhãn hiệu BURBERRY cỡ L (dưới nách trái có vết rách sắc gọn dài 2,5 cm).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Các bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.

Người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà các bị cáo khai nhận xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân, khoảng 21 giờ 30 phút ngày 16/04/2018 tại quán Karaoke PT của anh Đào Xuân P ở thôn Q 3, xã S, huyện N, tinh Ninh Bình. Nguyễn Văn T, Nguyễn Khắc S, Nguyễn Duy T1, Nguyễn Chí T2, Nguyễn Huy Thành H cùng người nam thanh niên tên Tuấn (bạn của T) đã có hành vi sử dụng chân tay, gậy gỗ, gậy rút kim loại, vỏ chai bia đập vỡ có cạnh sắc nhọn để đâm, đánh gây thương tích cho anh Đào Xuân P bị “01 vết thương xạt da đỉnh đầu; 01 vết thương 1/3 trên trong cánh tay phải; 01 vết thương 1/3 trên sau cẳng tay phải; 01 vết thương mạn sườn trái thấu bụng thủng thanh cơ trực tràng” giảm 29% sức khỏe. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ và Camera an ninh tại quán Karaoke Phong Thương của gia đình anh Đào Xuân P, xác định Camera an ninh đã ghi lại một phần diễn biến của vụ án và bản kết luận giám định pháp y số 018/2018/ Th-GĐPY ngày 26/04/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Ninh Bình.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự, hành vi của các bị cáo là cố ý; Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự, thấy: hành vi, tội danh và điều khoản áp dụng tại bản Cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội các bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà là có căn cứ. Vì vậy, hành vi nêu trên của các bị cáo là phạm tội “Cố ý gây thương tích” thuộc trường hợp “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS.

Đây là vụ án có đông bị cáo tham gia, hành vi phạm tội của các bị cáo mặc dù không có tính chất tổ chức, hình thức phạm tội là đồng phạm giản đơn. Nhưng trước khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần cá thể hóa trách nhiệm hình sự của từng bị cáo thấy rằng:

Đối với Nguyễn Văn T và Nguyễn Khắc S chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhưng không kiềm chế bản thân và khi được S kích động, T đã hung hăng bảo “Đ.M quay lại xem nó chửi cái gì” sau khi quay lại quán hát T nhặt 02 vỏ chai bia Hà Nội ở hành lang đập vào nhau làm cho phần đuôi của 02 vỏ chai bia bị vỡ ra tạo thành cạnh sắc nhọn rồi xông đến tấn công anh P, trong lúc lời qua tiếng lại và lôn xộn Nguyễn Khắc S xông đến dùng tay ghì cổ anh P, cùng lúc này Nguyễn Văn T xông đến gần anh P và đứng đối diện với anh P hai tay cầm 02 vỏ chai bia Hà Nội có cạnh sắc nhọn cùng một lúc tay bên phải T cầm vỏ chai bia vỡ đâm 01 nhát trúng vào“hông trái” của anh P; đồng thời tay bên trái T cầm vỏ chai bia vỡ đâm trúng cánh tay phải của anh P làm anh Pbị thương; vì vậy trong vụ án này T có vai trò đầu trong vụ án, bị cáo S có vai trò thứ hai sau bị cáo T.

Đối với Nguyễn Chí T2, Nguyễn Duy T1 và Nguyễn Huy Thành H mặc dù không có mâu thuẫn gì với anh P, trong lúc lời qua tiếng lại và lôn xộn các bị cáo đã dùng gậy gỗ, gậy rút kim loại (dạng 3 khúc dài khoảng 80 cm) nhặt tại quán cùng nhau xông vào vụt nhiều nhát trúng vào đầu, người anh P. Mặc dù thương tích mà các bị cáo này gây ra cho anh P nhỏ và không nghiêm trọng bằng thương tích mà T gây ra cho anh P nhưng các bị cáo đã có sự thống nhất và tiếp nhận về mặt ý chí, cùng thực hiện hành vi cố ý gây thương tích cho anh P nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này với vai trò đồng phạm giúp sức và có vai trò như nhau sau bị cáo T và S.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có;

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi sự việc xảy ra các bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận khắc phục hậu quả cho người bị hại;quá trình điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi đã gây ra; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do đó, cần cho các bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.

Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của từng bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ vì vậy, cần xử phạt các bị cáo như sau:

Đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Khắc S cần tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho các bị cáo học tập, cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với các bị cáo Nguyễn Chí T2, Nguyễn Duy T1 và Nguyễn Huy Thành H không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 36 BLHS giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát giáo dục cũng đủ để các bị cáo học tập, cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội. Các bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, vì vậy khi quyết định hình phạt cần áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS cho bị cáo được hưởng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định. Ngoài ra theo quy định tại khoản 3 Điều 36 BLHS các bị cáo còn bị khấu trừ thu nhập từ 5% dến 20% để sung quỹ nhà nước; vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng khấu trừ thu nhập hàng tháng trong thời gian chấp hành án đối với các bị cáo là 5%.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Nguyễn Văn T, Nguyễn Khắc S, Nguyễn Huy Thành H, Nguyễn Duy T1, Nguyễn Chí T2 đã thỏa thuận bồi thường cho anh Đào Xuân P số tiền 110.000.000đ. Đến nay anh P đã nhận đủ số tiền 110.000.000đ và không có đề nghị gì về phần trách nhiệm dân sự vì vậy hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 gậy rút kim loại (dạng 3 khúc dài khoảng 80 cm) của Nguyễn Huy Thành H sử dụng vụt anh P và 01 dao kim loại còn lại của anh Đào Xuân P dùng để đánh nhau với nhóm của T. Quá trình điều tra Nguyễn Huy Thành H khai sau khi xô sát H cầm theo chiếc gậy rút kim loại sau đó đã vứt trên đường bỏ chạy nhưng không biết vị trí cụ thể nào, anh P khai sau khi sử dụng dao đánh nhóm của T anh không biết mình đã vứt con dao ở vị trí nào đến nay anh không tìm thấy nên Cơ quan điều tra không thu giữ được gậy rút kim loại và con dao.

- Đối với 01 chiếc đồng hồ đeo tay nhãn hiệu NIBOSI màu trắng vàng thu giữ tại hiện trường, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Quốc K1 đã làm rơi khi can ngăn nhóm của T đánh anh P. Cơ quan điều tra Công an huyện N đã trả lại cho anh K1 là phù hợp.

- Đối với 01 USB (loại 4G) lưu giữ đoạn Video về diễn biến của vụ án và 01 phim chụp cắt lớp vi tính của Nguyễn Văn T giao nộp được chuyển theo hồ sơ vụ án.

- Đối với 01 dao (loại dao gọt hoa quả dài 20 cm, bản rộng 4 cm, lưỡi dao kim loại màu trắng, cán nhựa màu đen); 01 đoạn gỗ KT (150x6)cm; 01 đoạn gỗ KT(191x8)cm; 01 đoạn gỗ KT(100x3)cm; 01 đoạn gỗ KT(116x7)cm; 01 hòn đá không rõ hình thù KT(21x12x8)cm, nhiều mảnh vỡ vỏ chai bia loại Hà Nội, Sài Gòn là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng cần tịch thuy tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

- Đối với 01 áo giả da nam màu đen đã qua sử dụng nhãn hiệu BURBERRY cỡ L (dưới nách trái có vết rách sắc gọn dài 2,5 cm) thu giữ của Nguyễn Khắc S là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo không có nhu cầu lấy lại, chiếc áo cũng không còn giá trị sử dụng vì vậy cần tịch thu tiêu hủy.

Các vấn đề khác:

- Trong vụ án này còn có một đối tượng tên là Tuấn đi cùng nhóm của T đã có hành vi sử dụng vỏ chai bia đánh anh P. Quá trình điều tra xác định Tuấn là bạn của Nguyễn Văn T quen biết gặp nhau tại khu vực chùa B, ở xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. T chỉ biết tên là Tuấn nhà ở tỉnh Bắc Giang nhưng không biết rõ địa chỉ cụ thể của Tuấn. Ngày 16/4/2018 T gặp lại Tuấn ở khu vực chùa B nên T đã mời Tuấn cùng đi dự sinh nhật của Nguyễn Huy Thành H. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N chưa đủ căn cứ để xác minh, xử lý đối tượng Tuấn theo quy định.

- Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Khắc S, Nguyễn Chí T2, Nguyễn Duy T1, Nguyễn Huy Thành H đều phạm tội "Cố ý gây thương tích”.

1.1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; BLHS, Xử phạt:

- Bị cáo Nguyễn Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/06/2018.

- Bị cáo Nguyễn Khắc S 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/06/2018.

1.2. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 36 BLHS, Xử phạt:

- Bị cáo Nguyễn Chí T2 36 (Ba mươi sáu) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn tính từ ngày UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án và bản án.

- Bị cáo Nguyễn Duy T1 36 (Ba mươi sáu) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn tính từ ngày UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án và bản án.

- Bị cáo Nguyễn Huy Thành H 36 (Ba mươi sáu) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn tính từ ngày UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án và bản án.

Giao các bị cáo Nguyễn Chí T2, Nguyễn Duy T1, Nguyễn Huy Thành H cho UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình theo dõi giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình các bị cáo bị cáo Nguyễn Chí T2, Nguyễn Duy T1, Nguyễn Huy Thành H có trách nhiệm phối hợp với UBND xã G, huyện G trong việc giám sát giáo dục các bị cáo.

Khấu trừ thu nhập hàng tháng trong thời gian chấp hành án đối với các bị cáo Nguyễn Chí T2, Nguyễn Duy T1, Nguyễn Huy Thành H mỗi bị cáo là 5%.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy; 01 dao kim loại; 04 đoạn gỗ; 01 hòn đá; nhiều mảnh vỡ vỏ chai bia loại Hà Nội, Sài Gòn và 01 áo giả da.

(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/8/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nvà Chi cục thi hành án dân sự huyện N).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 các điều 135, 136 của BLTTHS; Áp dụng Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu án phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Khắc S, Nguyễn Chí T2, Nguyễn Duy T1, Nguyễn Huy Thành H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ