vanban.org

Bản án 59/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 16/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử lý vật chứng: Ghi nhận 02 máy hàn tích điện, nhãn hiệu Kawashima TIG 285,9A và nhãn hiệu Phi An ZX7-200,5.2KVA-7.2KVA; 02 máy mài kim loại cùng nhãn hiệu Maker – qMalaysia đã trả cho chủ sở hữu anh Nguyễn Tấn P và anh P không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 23 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂY NINH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2018/HS-ST
Ngày: 16 -8 -2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lắm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Mừng;

2. Bà Trần Thị Kim Khánh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đoàn Trung - Kiểm sát viên;

Ngày 16 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 53/2018/TLST- HS ngày 20 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn H, giới tính: Nam, sinh năm: 1988, tại: tỉnh Tây Ninh. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: khu phố N, phường S, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú hiện nay: khu phố N, phường S, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Nghề nghiệp: không có; trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Phạm Văn Th, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị Phụng V, sinh năm 1964; cùng trú tại: khu phố N, phường S, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Vợ: Huỳnh Thị Kim T, sinh năm 1989 (đã ly hôn năm 2010). Tiền án: Bản án số 28/2016/HSST ngày 27-12-2016 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh: Căn cứ khoản 1 Điều 138, Điểm g, h, p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong nhưng chưa được xóa án tích. Tiền sự: không có. Bị cáo đã bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Tây Ninh từ ngày 04-4-2018, đến ngày 10-4-2018 chuyển tạm giam cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Tấn P, sinh năm: 1987. Địa chỉ: khu phố T, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 04-4-2018, Phạm Văn H điều khiển xe mô tô lắp ráp, không giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số 61G1-173.08, đi trên đường, quan sát xung quanh tìm tài sản của người dân để sơ hở, không có người trông coi trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Khi đến nhà số 91, thuộc khu phố L, phường S, thành phố T nhìn thấy bên trong có nhiều máy hàn, máy mài điện nên dừng xe quan sát, thấy có người nên H điều khiển xe chạy đi, đến khoảng 12 giờ 50 phút cùng ngày, sau khi chạy xe quay trở lại quan sát thấy không có người nên H điều khiển xe dựng cặp hông rào nhà số 91, đi bộ vào bên trong lấy 02 máy hàn điện hiệu Kawashima TIG 285,9A, hiệu Phi An ZX7-200,5.2KVA-7.2KVA đi ra để lên xe, sau đó Hoàng tiếp tục quay vào lấy tiếp 02 máy mài kim loại cùng hiệu hiệu Kawashima TIG 285,9A cầm lên tay định đi ra thì nhìn thấy anh Nguyễn Tấn P, sinh năm 1987, ngụ khu phố N, phường S chạy xe đến nên H bỏ 02 máy mài kim loại xuống, ra xe nổ máy định chạy đi thì bị anh P cùng người dân đi đường bắt giữ, điện báo Công an đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Kết luận định giá tài sản số 22/KLĐG-TTHS ngày 09/4/2018 của HĐĐG trong tố tụng hình sự UBND thành phố Tây Ninh, kết luận: máy hàn tích điện nhãn hiệu Kawashima TIG 285,9A giá định 4.000.000 đồng; máy hàn tích điện nhãn hiệu Phi An ZX7-200,5.2KVA-7.2KVA, giá 3.000.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 35/KLĐG-TTHS ngày 24-5-2018 của HĐĐG trong tố tụng hình sự UBND thành phố Tây Ninh, kết luận: 01 máy mài kim loại màu đỏ, nhãn hiệu Maker – Malaysia, dài 1,5 tấc, trị giá 250.000 đồng; 01 máy mài kim loại màu đỏ, nhãn hiệu Maker – Malaysia, dài 1 tấc, trị giá 200.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản thiệt hại theo kết quả định giá là 7.450.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và vật chứng đã bị thu giữ như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố;

Về trách nhiệm dân sự: anh Nguyễn Tấn P đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Tại cáo trạng số 57/QĐ/KSĐT ngày 19 tháng 6 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh đã truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt: Áp dụng Khoản 1 Điều 173, Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù.

Xử lý vật chứng: Đối với 02 máy hàn tích điện và 02 máy mài kim loại đã trả cho chủ sở hữu anh Nguyễn Tấn P.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Dream II, màu nâu, biển số 61G1-173.08, là xe lắp ráp, không có giấy chứng nhận đăng ký xe, bị cáo H mua của Lê Trọng H, Cơ quan điều tra tách ra để làm rõ, khi nào làm rõ xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét;

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát;

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn hối cải về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời trình bày của bị cáo, những người tham gia tố tụng. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố thành phố Tây Ninh; Điều tra viên; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: Bị cáo Phạm Văn H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác để có tiền tiêu xài nên vào ngày 04-4-2018, bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút trộm 02 máy hàn tích điện, nhãn hiệu Kawashima TIG 285,9A và nhãn hiệu Phi An ZX7-200,5.2KVA-7.2KVA; 02 máy mài kim loại cùng nhãn hiệu Maker – qMalaysia của anh Nguyễn Tấn P thì bị phát hiện bắt quả tang; tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 7.450.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến anh ninh, trật tự an toàn xã hội nên phải chịu trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nhưng bị cáo tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này của bị cáo được xác định là tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy, mặc dù bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng nhưng bị cáo có tiền án, cho thấy rằng bị cáo có nhân thân xấu nên cần phải áp dụng hình phạt tù để cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản và thu nhập nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: 02 máy hàn tích điện, nhãn hiệu Kawashima TIG 285,9A và nhãn hiệu Phi An ZX7-200,5.2KVA-7.2KVA; 02 máy mài kim loại cùng nhãn hiệu Maker – qMalaysia đã trả cho chủ sở hữu anh Nguyễn Tấn P.

Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tình tiết, nội dung vụ án.

Về án phí: Bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Căn cứ Khoản 1 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04 tháng 4 năm 2018.

2. Xử lý vật chứng: Ghi nhận 02 máy hàn tích điện, nhãn hiệu Kawashima TIG 285,9A và nhãn hiệu Phi An ZX7-200,5.2KVA-7.2KVA; 02 máy mài kim loại cùng nhãn hiệu Maker – qMalaysia đã trả cho chủ sở hữu anh Nguyễn Tấn P và anh P không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.

3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016;

Buộc bị cáo Phạm Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo Bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày tính từ ngày tiếp theo ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ