- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Quốc Bình - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Bị cáo Đặng Quốc B phạm tội Hủy hoại tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2018/HS-ST Ngày: 26 - 9 - 2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
--------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Hồng Việt
2. Phạm Văn Ninh
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thuý Nga - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Trần Hà Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Sơn, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2018/TLST-HS, ngày 24 tháng 8 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2018/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 9 năm 2018, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Quốc B, sinh ngày 02/02/1953; tại tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: thôn C, xã TT, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Lớp 0/10; dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn B, sinh năm 1928 và con bà Lý Thị M (đã chết); vợ: Bàn Thị L, sinh năm 1955; con: có 08 người con, lớn nhất sinh năm 1977, nhỏ nhất sinh năm 1990.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Kim T – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Tuyên Quang; có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Trần Văn Í, trú tại xóm Đ, xã XV, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ, ngày 02/02/2018, Đặng Quốc B trú tại thôn Cháy, xã Tân Tiến, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, điều khiển xe mô tô biển số 14F3-0734 (xe của B) đến nhà Trần Văn Ích, trú tại xóm Đồng Dài, xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang để đòi tiền công B làm thuê cho Ích. Đến nơi gặp chị Trần Thị Xuân (vợ Ích), B hỏi Ích thì Xuân nói Ích đang trên đồi trồng cây, sau đó Xuân đi lên đồi phía sau nhà làm việc. B đợi Ích đến khoảng 10 giờ 30 phút nhưng không thấy Ích về, B quan sát thấy xe mô tô biển số 22B1-266.76 của Ích đang dựng trước cửa bếp, do bực tức nên B nảy sinh ý định đốt chiếc xe mô tô. B đi ra khu chuồng bò nhà Ích thấy một đống lửa đang cháy, B cầm lá cọ và một mẩu gỗ đang cháy đặt dưới gầm xe mô tô biển số 22B1-266.76 của Ích rồi điều khiển xe mô tô đi về. Lúc này chị Xuân đang làm ở trên đồi sau nhà thấy B đi về, nhìn xuống nhà thấy khói bốc lên liền chạy xuống thì thấy chiếc xe mô tô biển số 22B1-266.76 đang bốc cháy, Xuân cùng một số người dân xung quanh dập lửa, khoảng 15 phút thì lửa tắt.
Tại kết luận định giá tài sản số 15 ngày 19/3/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Sơn kết luận: Giá trị xe mô tô biển số 22B1-266.76 trước khi bị hủy hoại: 7.508.000đồng (Bảy triệu năm trăm linh tám nghìn đồng). Giá trị tài sản sau khi bị hủy hoại: toàn bộ xe bị đốt cháy, cong vênh, hư hỏng, động cơ không nổ được máy, không còn giá trị sử dụng. Giá trị thực tế theo giá phế liệu tại thị trường là: 700.000đồng (Bảy trăm nghìn đồng).
Cáo trạng số 58/CT-VKSYS ngày 22 tháng 8 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo về tội Hủy hoại tài sản, theo quy định khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Đặng Quốc B phạm tội Hủy hoại tài sản.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 07 (bẩy) tháng đến 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên đề nghị HĐXX không xem xét.
- Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ 01 khúc gỗ bị cháy đen, 01 lá cọ khô bị cháy xém phần đầu.
- Bị cáo phải chịu án phí; bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu quan điểm: Nhất trí với tội danh, điều luật mà Kiểm sát viện dẫn, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại; bị cáo là dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; hiện tại sức khoẻ bị cáo bị giảm sút 26% sức khoẻ di anh Ích gây ra; nên Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.
Kiểm sát viên không nhất trí quan điểm của của trợ giúp viên đề nghị bị cáo được hưởng án treo vì căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, tại phiên toà bị cáo khai đến nhà bị hại 4, 5 lần để đòi tiền bị hại, tuy nhiên bị hại xác nhận bị cáo có gọi điện 01 lần và một lần đến nhà tôi để đòi nợ. Xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm nên không cho bị cáo được hưởng án treo mà phải cách ly xã hội một thời gian.
Bị cáo nhất trí với bào chữa của Trợ giúp viên, không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên; nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử cho hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, từ chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 02/02/2018, tại xóm Đồng Dài, xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Đặng Quốc B trú tại thôn Cháy, xã Tân Tiến, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang đã có hành vi hủy hoại (đốt) xe mô tô biển số 22B1-266.76, có giá trị 7.508.000đồng (Bảy triệu năm trăm linh tám nghìn đồng) của ông Trần Văn Ích, trú tại xóm Đồng Dài, xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
Hành vi của bị cáo Đặng Quốc B đã phạm vào tội Hủy hoại tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015.
. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ.
Bị cáo thực hiện hành vi một cách liều lĩnh, xem thường pháp luật; bị cáo nhận thức được hành vi đốt tài sản của người khác, đặc biệt là chiếc xe máy là nguồn nguy hiểm cao độ khi cháy có thể phát nổ gây ra hỏa hoạn, tuy nhiên bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy cần buộc bị cáo phải chịu hình phạt tù nghiêm minh để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
. Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại 7.500.000 đồng; bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần mức án cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị hại xác định để xảy ra sự việc trên cũng là một phần lỗi của bị hại, do bị hại nợ tiền của bị cáo B lâu không trả nên bị cáo B bực tức mới hành động như vậy. Sau khi bị cáo B đốt xe, anh đã đuổi theo và chém bị cáo gây thương tích nên Hội đồng xét xử xem xét tính chất của vụ án để có mức án phù hợp đối với hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo hiện tại sức khoẻ yếu sau khi bị anh Ích chém gây thương tích, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, hành vi phạm tội của bị cáo, bị hại cũng có một phần lỗi nên Hội đồng xét xử cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng đủ răn đe bị cáo.
. Hội đồng xét xử thấy bị cáo là dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 178 của Bộ luật hình sự là phù hợp.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Trần Văn Ích đã được bị cáo bồi thường 7.500.000 đồng, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về vật chứng: 01 khúc gỗ bị cháy đen, 01 lá cọ khô bị cháy xém phần đầu đây là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
. Quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:
* Tuyên bố: Bị cáo Đặng Quốc B phạm tội Hủy hoại tài sản.
* Xử phạt: Bị cáo 07 (bẩy) tháng tù, cho hưởng án treo, thử thách 01 (một) năm 02 (hai) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/9/2018).
Giao bị cáo cho UBND xã Tân Tiến giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 khúc gỗ bị cháy đen, 01 lá cọ khô bị cháy xém phần đầu
(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Sơn với Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Sơn, lập ngày 13/9/2018).
3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án nhân dân tỉnh TQ;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND h. Yên Sơn (2 bản);
- Bị cáo; Người tham gia TT;
- CQCSĐT Công an huyện;
- Chi cục THADS huyện;
- Sở Tư pháp TQ;
- Hồ sơ vụ án hình sự;
- Thi hành án hình sự;
- Lưu HS.
Nguyễn Thị Thu Hà Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án nhân dân tỉnh TQ;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND h. Yên Sơn (2 bản);
- Bị cáo; Người tham gia TT;
- CQCSĐT Công an huyện;
- Chi cục THADS huyện;
- Sở Tư pháp TQ;
- Hồ sơ vụ án hình sự;
- Thi hành án hình sự;
- Lưu HS.
Nguyễn Xuân Thủy
Hội đồng xét xử sơ thẩm
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đặng Thị Huệ – Hà Thị Vinh
Nguyễn Xuân Thủy
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh TQ; - VKSND h. Yên Sơn (2 bản); - Bị cáo; Người tham gia TT; - CQCSĐT Công an huyện; - Chi cục THADS huyện; - Sở Tư pháp TQ; - Hồ sơ vụ án hình sự; - Thi hành án hình sự; - Lưu HS. Các Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Xuân Thủy Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |