- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Nguyễn Thị Ngọc T xin ly hôn với ông Lê Cô V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Ngọc Tuyết đối với ông Lê Cô Va.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN ND Q.LIÊN CHIỂU CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2018/HNGĐ-ST Ngày 29.11.2018 V/v tranh chấp: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thanh Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Bạo và ông Nguyễn Công Chi
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Kim Ánh - Thư ký Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Phạm Ái Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 441/2018/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 9 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 26.10.2018, quyết định hoãn phiên tòa số 50/2018/QĐST-HN ngày 08.11.2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc Tuyết - Sinh năm 1992. Có mặt
- Bị đơn: Ông Lê Cô Va - Sinh năm 1983. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do
Cùng trú tại: tổ 22, phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Tuyết trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Lê Cô Va kết hôn vào năm 2015 có đăng ký kết hôn tại UBND phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Trong thời gian chung sống đến tháng 01.2017 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do ông Va thường xuyên bài bạc, rượu chè về nhà lớn tiếng có đôi khi còn đánh vợ nhưng khi tôi có ý kiến thì ông Va lại bảo thủ và không thay đổi tính vũ phu, vào tháng 7.2018 tôi đã một lần gửi đơn xin ly hôn đến Tòa nhưng ông Va hứa sẽ thay đổi nên tôi đã tạo cho ông Va một cơ hội để vợ chồng đoàn tụ nhưng từ khi rút đơn về thì ông Va vẫn không thay đổi, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không giải quyết được vì vậy tôi yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Lê Cô Va.
Về con chung: Tôi xác nhận tôi và ông Va có 01 con chung tên là Lê Nguyễn Bảo An - sinh ngày 19.01.2016. Ly hôn tôi xin nuôi con chung và không yêu cầu ông Va cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Tôi xác nhận không có.
* Bị đơn là ông Lê Cô Va không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu:
- Về thủ tục tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử cũng như việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Tuyết kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án; bị đơn ông Lê Cô Va không chấp hành nghiêm pháp luật, vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
-Về nội dung vụ án: xét thấy về quan hệ hôn nhân mâu thuẫn của bà Tuyết và ông Va đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn vợ chồng đã được UBND phường Hòa Hiệp Bắc xác nhận nên căn cứ vào Điều 51,56 Luật HNGĐ đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tuyết.
Về con chung có 01 con chung Lê Nguyễn Bảo An - sinh ngày 19.01.2016. Ly hôn tôi xin nuôi con chung và không yêu cầu ông Va cấp dưỡng nuôi con.
Hiện nay bà Tuyết là người đang trực tiếp nuôi dưỡng, con chung còn nhỏ nên đề nghị HĐXX giao con chung cho bà Tuyết nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp với Điều 81,82 và 83 Luật HN&GĐ.
Về cấp dưỡng nuôi con: bà Tuyết không yêu cầu nên không xem xét .
Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
.Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Ngọc Tuyết và ông Lê Cô Va thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho đương sự vắng mặt theo quy định tại Điều 208, 209, 210, 211 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn không xuất trình thêm chứng cứ mới.
Tại phiên toà lần thứ nhất ngày 12.11.2018 và cũng như phiên toà hôm nay Toà án đã triệu tập, niêm yết công khai Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà đối với bị đơn là ông Lê Cô Va, nhưng ông Va vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt ông Va.
.Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc Tuyết và ông Lê Cô Va thì thấy:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Tuyết và ông Lê Cô Va có đăng ký kết hôn vào năm 2015 có đăng ký kết hôn tại UBND phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện.
Trong thời gian chung sống đến tháng 01.2017 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do ông Va thường xuyên bài bạc, rượu chè về nhà lớn tiếng có đôi khi còn đánh bà Tuyết nhưng khi bà Tuyết có ý kiến thì ông Va lại bảo thủ và không thay đổi tính vũ phu, vào tháng 7.2018 bà Tuyết đã một lần gửi đơn xin ly hôn đến Tòa nhưng ông Va hứa sẽ thay đổi nên bà Tuyết đã tạo cho ông Va một cơ hội để vợ chồng đoàn tụ nhưng từ khi rút đơn về thì ông Va vẫn không thay đổi, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không giải quyết được vì vậy bà Tuyết yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Lê Cô Va.
Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm hôm nay bị đơn là ông Lê Cô Va mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Tuyết. Theo đơn xác minh tại UBND phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng thì cuộc sống vợ chồng giữa bà Tuyết và ông Va có mâu thuẫn cụ thể như thế nào thì địa phương không rõ chỉ biết hiện nay bà Tuyết đã về nhà mẹ ruột minh sống, vào tháng 7 năm 2018 bà Tuyết đã một lần gửi đơn xin ly hôn nhưng vì con chung và muốn tạo cho nhau một cơ hội đoàn tụ nên bà Tuyết đã rút đơn khởi kiện nhưng từ khi rút đơn về cuộc sống vợ chồng vẫn không thay đổi, khả năng đoàn tụ không có. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà Tuyết và ông Va đã đến không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà Tuyết yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51,56 Luật HNGĐ năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về quan hệ con chung: bà Tuyết khai nhận bà và ông Va có 01 con chung là Lê Nguyễn Bảo An - sinh ngày 19.01.2016. Ly hôn bà Tuyết xin nuôi con chung và không yêu cầu ông Va cấp dưỡng nuôi con.
HĐXX thấy việc giao con chung cho người trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng sau ly hôn phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Hiện nay cháu Bảo An con nhỏ rất cần sự chăm sóc của người mẹ, bản thân bà Tuyết cũng có công việc và thu nhập ổn định. Do đó, HĐXX xét thấy việc giao cháu Bảo An cho bà Tuyết nuôi dưỡng, chăm sóc là đảm bảo quyền và lợi ích về mọi mặt của cháu và hoàn toàn phù hợp với Điều 81,82 và 83 Luật HNGĐ.
Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa hôm nay bà Tuyết không yêu cầu ông Va cấp dưỡng tiền nuôi con nên HĐXX không xem xét.
Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng tiền nuôi con.
-Về tài sản chung, nợ chung: bà Tuyết khai nhận không có
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Va cũng không có ý kiến gì đối với tài sản chung và nợ chung nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Nếu sau này bà Tuyết và ông Va có tranh chấp về vấn đề tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.
- Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì án phí HNGĐ sơ thẩm là 300.000 đồng bà Tuyết phải nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Các Điều 51, 53, 54,56,58,81,82,83,84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Ngọc Tuyết đối với ông Lê Cô Va.
Tuyên xử: bà Nguyễn Thị Ngọc Tuyết, sinh năm 1992, được ly hôn với ông Lê Cô Va, sinh năm 1983.
Giấy chứng nhận kết hôn số 46/2015, quyển số 46/2015 cấp ngày 17.4.2015 của UBND phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Tuyên: Giao con chung là Lê Nguyễn Bảo An - sinh ngày 19.01.2016 cho bà Nguyễn Thị Ngọc Tuyết trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc đến tuổi trưởng thành. Bà Tuyết không yêu cầu ông Va cấp dưỡng nuôi con.
Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Tuyết khai nhận không có
4. Về án phí:
- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng bà Nguyễn Thị Ngọc Tuyết phải nộp, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0005766 ngày 24.9.2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng. Như vậy, bà Tuyết đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay.
Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện Kiểm sát Liên Chiểu; - Chi cụcThi hành án Liên Chiểu; - UBND p Hòa Hiệp Bắc, q Liên Chiểu, TPĐN - Sở Tư pháp - Hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thanh Thủy |