vanban.org

Bản án 59/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình Tuyên án 28/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Bùi Khắc Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

Áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1,2 Điều 46; Điều 45; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/QH14; khoản 3 Điều 7 BLHS 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Bùi Khắc Tr 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/7/2017. Không áp dụng hình phạt bổ sun… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Khắc Tr - tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 19…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Bùi Khắc Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HƢNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 59/2017/HSST
Ngày 28/9/2017
Bùi Khắc Tr Phạm tội Tàng
trữ trái phép ma túy

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƢNG, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Hải Yến

Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Mai Quý Hiệp

2. Ông Nguyễn Hữu Hiển

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà:

Bà Trịnh Lê Nhung – cán bộ Toà án

Đại diện VKSND huyện Đông Hưng tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Tiến Tráng - Kiểm sát viên

Ngày 28/9/2017 tại Trụ sở, Toà án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đã xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 52/2017/HSST ngày 08/9/2017 đối với bị cáo:

Bùi Khắc Tr, sinh năm 1991

Địa chỉ: Thôn D Tr Đ, xã Ph L, huyện ĐH, tỉnh TB

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không

Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: lao động tự do

Con ông Bùi Khắc L, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1971. Bị cáo chưa có vợ, con.

Nhân thân: Tháng 3/2010 tham gia quân đội đến tháng 01/2012 xuất ngũ về địa phương.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/7/2017, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đông Hưng, có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 13/7/2017, Tr đi bộ từ nhà ở ra đường trục xã Ph Lđi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ ra quốc lộ 10 rồi bắt xe buýt đến xã AN, huyện QP, tỉnh TB mục đích mua ma túy về sử dụng. Khi đến xã AN, do đã có lần mua ma túy ở đây nên Tr tìm và gặp một người đàn ông khoảng 60 tuổi ở trục đường xã, Tr không biết tên, địa chỉ của người này, khi gặp Tr nói với người này bán cho Tr 01 gói ma túy 100.000đồng (một trăm nghìn đồng), người này đồng ý và lấy từ túi áo bên trái 01 gói ma túy được gói bằng giấy trắng đưa cho Tr, Tr cầm gói ma túy bỏ vào túi quần bên phải đang mặc sau đó đi bộ ra quốc lộ 10 bắt xe buýt về nhà sử dụng. Khi Tr đi bộ về đến thôn D Tr Đ, xã Ph L thì bị tổ tuần tra Công an xã Ph L và Công an huyện Đông Hưng phát hiện bắt giữ. Vật chứng thu giữ: Thu ở túi quần bên trái của Tr đang mặc 01 gói nhỏ được gói bằng giấy trắng kích thước 01x 01cm, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục, quản lý của Tr: 01 điện thoại di động Nokia đã qua sử dụng và 150.000đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam. Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Khắc Tr nhưng không thu giữ đồ vật, tại liệu gì.

Tại bản kết luận giám định số 307/KLGĐ-PC54 ngày 14/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định thu giữ của Bùi Khắc Tr là ma túy, loại Hêrôin, có trọng lượng là 0,3523gam (không phẩy ba nghìn năm trăm hai mươi ba gam)

Bản cáo trạng số 54/KSĐT ngày 08/9/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng truy tố bị cáo Bùi Khắc Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà bị cáo Bùi Khắc Tr khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng mô tả. Đại diện VKSND huyện Đông Hưng tham gia phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 194; điểm p khoản 1,2 điều 46; điều 45; điều 33 BLHS 1999; Nghị quyết 41/QH của Quốc hội, khoản 3 Điều 7 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Bùi Khắc Tr 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng, án phí.

Bị cáo Bùi Khắc Tr không tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt, điều luật áp dụng.

Bị cáo Bùi Khắc Tr nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Hưng, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa như:

- Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và quản lý vật chứng do Công an huyện Đông Hưng lập hồi 12 giờ ngày 13/7/2017.

- Bản kết luận giám định số 307/KLGĐ-PC54 ngày 14/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình.

- Lời khai của người làm chứng ông Nguyễn Văn Đ và ông Nguyễn Trọng C.

Có đủ cơ sở để kết luận Bùi Khắc Tr có hành vi tàng trữ trái phép 0,3523gam (không phẩy ba nghìn năm trăm hai mươi ba gam) với mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 194 BLHS.

Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo là người đã được rèn luyện trong quân ngũ nhưng không chịu tu dưỡng mà bị lôi kéo vào con đường nghiện ma túy. Bản thân bị cáo biết rõ tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và cộng đồng xã hội, là mặt hàng nhà nước độc quyền quản lý nhưng để thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã tàng trữ 0,3523gam hêrôin để sử dụng. Vì vậy cần vận dụng khoản 1 Điều 194 để xét xử bị cáo.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX thấy: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào; về tình tiết giảm nhẹ bị cáo sau khi phạm tội thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS. Bị cáo có thời gian tham gia quân đội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS

Theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 thì mức hình phạt tù từ hai năm đến bảy năm, cao hơn so với mức hình phạt tù từ một năm đến năm năm quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Căn cứ vào những quy định có lợi cho người phạm tội, theo Nghị quyết 41/2017/QH14; khoản 3 Điều 7 và khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử cần quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra, để cải tạo giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, phạm tội không có mục đích vụ lợi vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

Về vật chứng: Cần tịch thu tiêu huỷ số ma túy thu giữ của Tr còn lại sau giám định. Chiếc điện thoại di động Nokia đã qua sử dụng và 150.000đồng Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Hưng quản lý của Tr không liên quan đến hành vi phạm tội cần tuyên trả cho bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy Tr khai mua của một người đàn ông khoảng 60 tuổi ở trục đường xã AN, huyện QP không biết tên, địa chỉ không xác định được là ai nên không có căn cứ xử lý.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: bị cáo Bùi Khắc Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

2. Áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1,2 Điều 46; Điều 45; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/QH14; khoản 3 Điều 7 BLHS 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Bùi Khắc Tr 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/7/2017.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

3. Về vật chứng: áp dụng điều 76 BLTTHS; điều 41 Bộ luật hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ 0,3003 gam Heroin thu giữ của Bùi Khắc Tr còn lại sau giám định được đựng trong phong bì niêm phong số 307/KLGĐ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình

- Tuyên trả bị cáo Bùi Khắc Tr 01 điện thoại di động Nokia và 150.000đồng.

(Tất cả được thể hiện chi tiết tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/9/2017 giữa Công an Đông Hưng và Chi cục thi hành án dân sự Đông Hưng)

4. Về án phí: Bị cáo Bùi Khắc Tr phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai, sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ