vanban.org

Bản án 589/2026/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/07/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/07/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn Kiến P - hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 589/2026/HS-PT
Ngày 28 - 7 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Đức Nam.

Các Thẩm phán: 1. Ông Huỳnh Văn Trực.

2. Bà Lê Thị Thương Huyền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Minh Quốc Bảo - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 477/HSPT ngày 08 tháng 6 năm 2026 đối với bị cáo Nguyễn Tấn Kiến P do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 168/2026/HS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Tấn Kiến P, sinh năm 1987 tại Đồng Tháp; nơi thường trú: 3 N, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện nay: căn hộ H số A N, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: nhân viên văn phòng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn T và bà Vũ Kim H; chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/10/2025 cho đến nay; tại ngoại, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 02 giờ 10 phút, ngày 27/7/2025 anh Nguyễn Công Đ nhận được 01 cuốc xe trên app của V đi từ vị trí 71 M, phường S, Thành phố Hồ Chí Minh đến địa chỉ 1 N, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 80.000 đồng. Anh Đ điều khiển xe ôtô biển số 51F-917.58 đến và chở Nguyễn Tấn Kiến P về Tòa nhà chung cư T đỉa chỉ 1 N, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến sảnh tòa nhà chung cư, bị cáo P xuống xe thì bị vấp ngã nên cho rằng anh Đ đỗ xe không tạo điều kiện cho khách dẫn đến việc vấp ngã này. Do có sử dụng rượu bia trước đó nên bị cáo P không kiềm chế được hành vi của mình và đã lấy ghế nhựa cạnh bàn chỗ bảo vệ tòa nhà ngồi ném mạnh vào xe ôtô trên, hậu quả làm kính chắn gió của xe ô tô này bị nứt. Anh Đ đã đến Công an phường P để trình báo vụ việc ngay sau đó.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Nguyễn Tấn Kiến P đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Kết luận định giá tài sản số 8008/KL-HĐĐGTS ngày 28/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự cấp Thành phố, kết luận: Giá trị thiệt hại của kính chắn gió xe ô tô biển số 51F-917.58 là 18.453.000 đồng (mười tám triệu bốn trăm năm mươi ba ngàn đồng).

Tại bản Cáo trạng số 224/CT-VKS ngày 06/3/2026 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Tấn Kiến P về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 168/2026/HS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Xử phạt Nguyễn Tấn Kiến P 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm: ngày 06/5/2026, bị cáo Nguyễn Tấn Kiến P kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng hình phạt tiền.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, cho hưởng án treo và xác nhận nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên là đúng với hành vi phạm tội của họ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhận định án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo Nguyễn Tấn Kiến P là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, mức hình phạt đã tuyên là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có cung cấp thêm tình tiết mới nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Tuy nhiên, mức án mà Tòa án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Nói lời sau cùng bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo ở ngoài xã hội không bắt bị cáo chấp hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào khoảng 02 giờ 10 phút, ngày 27/7/2025, anh Nguyễn Công Đ điều khiển xe ô tô biển số 51F-917.58 và chở khách là Nguyễn Tấn Kiến P đến Tòa nhà The Prince R địa chỉ 1 N, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến sảnh tòa nhà, bị cáo Nguyễn Tấn Kiến P xuống xe thì bị vấp ngã nên cho rằng anh Đ đỗ xe không tạo điều kiện cho khách dẫn đến việc vấp ngã này. Do có sử dụng rượu bia trước đó nên bị cáo P không kiềm chế được hành vi của mình và đã lấy ghế nhựa cạnh bàn chỗ bảo vệ tòa nhà ngồi ném mạnh vào xe ô tô trên, hậu quả làm kính chắn gió của xe ô tô này bị hư hỏng. Qua định giá tài sản trị giá thiệt hại của kính chắn gió xe ô tô là 18.453.000 đồng.

Quá trình điều tra bị cáo P thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên và đã bồi thường cho chủ sở hữu và chủ sở hữu đã có đơn bãi nại cho bị cáo.

Như vậy, hành vi khách quan của bị cáo Nguyễn Tấn Kiến P đã phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025) (viết tắt là Bộ luật Hình sự), với tình tiết định tội là “cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng”. Bị cáo P phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

Với hành vi khách quan nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử:

Bị cáo Nguyễn Tấn Kiến P về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự (thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm), là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Và khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như sau: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; được tặng Bằng khen của Thành Đoàn Thành phố H và có ông nội là liệt sĩ, quy định tại điểm b điểm i điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo 09 (chín) tháng tù, là trong khung hình phạt.

Tuy nhiên, trong vụ án này cần xem xét cho bị cáo Nguyễn Tấn Kiến P như sau:

- Hậu quả vụ án về thiệt hại tài sản đã được khắc phục toàn bộ.

- Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; lần đầu phạm tội.

- Bị cáo được tặng Bằng khen của Thành Đoàn Thành phố H đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị hại đã bãi nại, tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo nộp thêm tài liệu có cha được tặng thưởng Kỉ niệm chương vì sự nghiệp báo chí, Kỉ niệm chương vì sự nghiệp báo Nhân dân, Huân chương lao động hạng II, quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét bị cáo có 06 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b điểm i điểm s điểm v khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Có nơi cư trú rõ ràng, từ lúc được tại ngoại cho đến nay không vi phạm pháp luật.

Theo quy định tại Điều 2 và Điều 3 của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Điều 1 của Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, thì bị cáo đủ điều kiện quy định tại Điều 2 và không thuộc trường hợp không cho hưởng án treo tại Điều 3 của Nghị quyết 02 và Điều 1 của Nghị quyết 01 đều hướng dẫn Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

Vì vậy, xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hậu quả của hành vi phạm tội. Thì Hội đồng xét xử phúc thẩm không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, cho hưởng án treo có ấn định thời gian thử thách. Cũng đủ sức giáo dục họ ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Với lập luận tại đoạn [1], [2] và [3] là căn cứ để Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận hay không chấp nhận quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát, yêu cầu kháng cáo của bị cáo.

Sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trường hợp sửa án về hình phạt này là do có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới và là quan điểm đánh giá về áp dụng hình phạt của Hội đồng xét xử phúc thẩm nên Tòa án cấp sơ thẩm không có lỗi.

Về kiến nghị xử lý sai phạm: tại bản án sơ thẩm ghi sai tên bị cáo bị xét xử trong phần cáo trạng truy tố, đúng là Nguyễn Tấn Kiến P (ghi sai là Nguyễn Quốc K tại trang 2) cần nghiêm túc rút kinh nghiệm; phần dân sự không giải quyết mà buộc bị cáo chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm là không đúng (tại trang 4). Căn cứ Điều 345 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án sơ thẩm phần này mặc dù không có kháng cáo, kháng nghị theo hướng có lợi cho bị cáo.

Về án phí: bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 345, điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm b điểm i điểm s điểm v khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025);

Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Sửa bản án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Kiến P 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường P, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

Trả lại cho bị cáo số tiền 30.000.000 đồng (theo biên lai thu tiền số 0000678 ngày 09/7/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố H).

Bị cáo không phải chịu: 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ