vanban.org

Bản án 589/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 29/11/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Vắng mặt đối với Ngân hàng thương mại cổ phần V và bà Trương Thị X.

Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần V. Buộc bà Trương Thị X phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V tổng cộng số tiền là 418.719.749 đồng. Trong đó gồm: Số tiền nợ gốc là 190.352.619 đồng và tiền lãi là 228.367.130 đồng (tính đến ngày 29/11/2019). Thanh toán một… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V - Bị đơn: Bà Trương Thị X"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Vắng mặt đối với Ngân hàng thương mại cổ phần V và bà Trương Thị X.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 589/2019/DS-ST
Ngày: 29/11/2019
V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Kim Hồng.

2. Bà Nguyễn Thị Năm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Cao Sơn là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Kim Sinh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 209/2019/TLST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2019 về Tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 236/2019/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 165/2019/QĐST- DS ngày 11/11/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V

Trụ sở: 89 Láng Hạ, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.

Địa chỉ: Tầng 2, 96 Cao Thắng, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Mai Hoàng N, sinh năm 1993 và ông Nguyễn Hùng Q theo văn bản ủy quyền số 22276/2019/UQ-PGDK ngày 04/7/2019.

(Có đơn xin vắng mặt)

2. Bị đơn: Bà Trương Thị X, sinh năm: 1983.

Địa chỉ: 28H2 khu dân cư Bến Lức, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/01/2019 cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V có người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Hùng Q trình bày: Bà Trương Thị X ký với Ngân hàng thương mại cổ phần V, theo Giấy đăng ký vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số LD1636200645 ngày 22/12/2016, hạn mức vay 200.000.000 đồng, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất theo hợp đồng, mục đích vay tiêu dùng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng. Thời gian đầu bà Duyên thực hiện đúng hợp đồng. Sau đó bà X vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Cụ thể, bà X vi phạm thanh toán kể từ ngày 13/9/2017 cho đến nay, mặc dù Ngân hàng nhiều lần nhắc nhở nhưng bà X vẫn cố tình không thực hiện đúng hợp đồng và qua quá trình làm việc bà X vẫn không thiện chí trả nợ nên Ngân hàng thương mại cổ phần V đã chấm dứt hợp đồng và chuyển số tiền nợ gốc sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 29/11/2019 số tiền bà X còn nợ Ngân hàng thương mại cổ phần V gốc là 190.352.619 đồng và tiền lãi là 228.367.130 đồng. Tổng cộng số tiền là 418.719.749 đồng. Thanh toán một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Ngân hàng thương mại cổ phần V đề nghị nếu bà X chậm thanh toán số tieàn 418.719.749 đồng thì bà X phải thanh toán số tiền lãi chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Giấy đăng ký vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số LD1636200645 ngày 22/12/2016.

Bị đơn bà Trương Thị X: Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà X vẫn vắng mặt không đến Tòa trình bày yêu cầu.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu ý kiến: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn chấp hành tốt pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn chấp hành chưa tốt pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dụng vụ án có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật, thủ tụng tố tụng và thẩm quyền giải quyết:

Xét Đơn khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V thì đây là vụ án Tranh chấp hợp đồng tín dụng. Do bị đơn cư trú tại Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại các Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V có đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Hùng Q có Đơn ngày 23/11/2019 đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Trương Thị X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa, nên căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là phù hợp quy định của pháp luật.

Về các yêu cầu của các đương sự:

Xét Giấy đăng ký vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số LD1636200645 ngày 22/12/2016 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần V và bà Trương Thị X. Gồm các điều khoản chính như sau: hạn mức vay 200.000.000 đồng, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất theo hợp đồng, mục đích vay tiêu dùng và trong quá trình sử dụng bà X vi phạm nghĩa vụ thanh toán.

Cụ thể, bà X vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 13/9/2017 cho đến, mặc dù Ngân hàng nhiều lần nhắc nhở nhưng bà X vẫn cố tình không thực hiện đúng hợp đồng và qua quá trình làm việc bà X vẫn không thiện chí trả nợ nên Ngân hàng thương mại cổ phần V đã chấm dứt hợp đồng và chuyển số tiền nợ gốc sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 29/11/2019 số tiền bà X còn nợ Ngân hàng thương mại cổ phần V gốc là 190.352.619 đồng và tiền lãi là 228.367.130 đồng. Tổng cộng số tiền là 418.719.749 đồng.

Xét trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà X đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán và vẫn không đóng tiền lãi quá hạn và trả nợ gốc cho Ngân hàng thương mại cổ phần V là vi phạm thỏa thuận mà hai bên đã thỏa thuận ký kết. Đồng thời, vi phạm Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2005 và Luật các tổ chức tín dụng. Do đó, bà X phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ gốc và tiền lãi quá hạn phát sinh cho Ngân hàng thương mại cổ phần V. Cụ thể như sau: Tính đến ngày 29/11/2019 số tiền bà X còn nợ Ngân hàng thương mại cổ phần V gốc là 190.352.619 đồng và tiền lãi là 228.367.130 đồng. Tổng cộng số tiền là 418.719.749 đồng thì như phân tích trên lời đề nghị này có căn cứ chấp nhận.

Xét ý kiến Ngân hàng thương mại cổ phần V đề nghị nếu bà X chậm thanh toán số tieàn 418.719.749 đồng thì bà X phải thanh toán số tiền lãi chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Giấy đăng ký vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số LD1636200645 ngày 22/12/2016 thì lời trình bày này là sự tự nguyện của Ngân hàng thương mại cổ phần V và điều này phù hợp pháp luật nên chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Trương Thị X phải chịu án phí trên số tiền phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V.

Ngân hàng thương mại cổ phần V không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2005;

- Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng;

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2009 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014);

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 có hiệu lực vào ngày 01/01/2017.

Tuyên xử: Vắng mặt đối với Ngân hàng thương mại cổ phần V và bà Trương Thị X.

Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần V.

1. Buộc bà Trương Thị X phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V tổng cộng số tiền là 418.719.749 đồng. Trong đó gồm: Số tiền nợ gốc là 190.352.619 đồng và tiền lãi là 228.367.130 đồng (tính đến ngày 29/11/2019). Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Số tiền lãi được tính tiếp cho bà Trương Thị X kể từ ngày 30/11/2019 trên số tiền thực tế vay cho đến khi thi hành án xong theo mức lãi suất nợ quá hạn mà hai bên đã thỏa thuận ký kết.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Trương Thị X phải chịu là 20.748.790 (Hai mươi triệu bảy trăm bốn mươi tám nghìn bảy trăm chin mươi) đồng, nộp tại cơ quan Thi hành dân sự có thẩm quyền.

Ngân hàng thương mại cổ phần V không phải chịu án phí.Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí 8.236.000 đồng (Tám triệu hai trăm ba mươi sáu) đồng cho Ngân hàng thương mại cổ phần V đã nộp theo biên lai thu tiền số 0019522 ngày 25/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8.

3. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ