- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng T phạm tội Giết người, Cố ý gây thương tích - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 588/2023/HS-PT Ngày 23-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thụy Vũ;
Các Thẩm phán:
Bà Huỳnh Thanh Duyên;
Bà Trần Thị Hòa Hiệp.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm lưu động công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 289/2023/TLPT-HS ngày 27 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Hoàng T. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2023/HS-ST ngày 22 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Hoàng T (tên gọi khác: L), sinh ngày 07 tháng 11 năm 1992 tại huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 02/12; Cha: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1966; Mẹ: Lê Thị Kim O sinh năm1969; Em ruột: 01 người, sinh năm 1996; Vợ: Tô Minh T1, sinh ngày 11/4/1995; Con: Nguyễn Đình L1 sinh năm 2017 và Nguyễn Hoàng M sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ ngày 03/4/2022, tạm giam ngày 06/4/2022 đến nay. (Có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng T: Luật sư Phạm Anh V – Đoàn Luật sư tỉnh K. (Có mặt)
Địa chỉ: C T, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
(Đối với những người tham gia tố tụng không kháng cáo, không liên quan đến
kháng cáo, Tòa án không tiến hành triệu tập)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 15 phút ngày 26/12/2021, sau khi uống rượu tại nhà của D Công Đoàn thuộc ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang thì T chạy xe máy về nhà, khi rẽ vào chợ T5, T bị ngã xe và va chạm với xe ông Phan Thành V1 đang dừng cặp lề đường trước quán C thuộc ấp Đ, xã T, huyện T. Tính xin lỗi thì ông V1 nói không có gì, đi đi. Lúc này, Đ1 chạy xe đến hỏi chuyện gì rồi cùng T đến quán cà phê ở gần đó, Đ1 hỏi T có sao không, T nói “Không sao, nhưng người ta đòi bồi thường 2.000.000đ”. Đ1 kêu T chỉ người đòi bồi thường tiền rồi cùng T quay lại quán cà phê Mỹ N, T chỉ cho Đ1 chiếc xe màu trắng (chiếc xe của ông V1), Đ1 chỉ vào xe hỏi: Xe này của ai mà đòi đền tiền hai triệu? ông V1 trả lời: Xe của tôi, mà tôi có đòi đền H gì đâu. Đ1 đi đến dùng tay nắm cổ áo ông V1, sau đó bỏ ra và đi ra ngoài dùng chân đá vào xe ông V1. Tính đi đến chỗ ông V1 chụp lấy ly bằng thủy tinh ném vào đầu ông V1 01 cái làm đầu ông V1 bị thương tích chảy máu. Ông V1 bỏ chạy, T đuổi theo dùng tay đánh vào người ông V1 làm ông V1 té ngã xuống đường, ông V1 đứng lên bỏ chạy thì T chụp lấy cái ghế xếp của tiệm trà sữa gần đó đuổi theo và dùng ghế đánh vào người ông V1, ông V1 dùng tay đưa lên đỡ làm trúng gãy xương bàn tay và ngón tay phải. Thấy vậy, Đ1 đến chụp lấy ghế trên tay T ném đi chỗ khác rồi cùng T bỏ đi. Ông V1 được đưa đi cấp cứu và điều trị đến ngày 27/12/2021 ra viện. Sau đó, T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T khởi tố về tội cố ý gây thương tích và cấm đi khỏi nơi cư trú.
Trong thời gian được tại ngoại, thì đến khoảng 10 giờ ngày 03/4/2022, T cùng vợ là Tô Minh T1 đi dự đám cưới của người bạn tên Vũ Hoàn T2 tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang. Khi dự tiệc, T ngồi cùng bàn với Bùi Văn N1 và một số người bạn khác. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, T và N1 lời qua tiếng lại dẫn đến cãi nhau, T dùng tay đánh vào mặt N1 một cái, N1 định đánh lại nhưng được những người ngồi cùng bàn ôm lại, N1 nói “bỏ tao ra để tao về”. Khi N1 được bỏ ra, N1 đi lại và dùng tay đánh vào mặt T một cái, T đứng lên định đánh lại thì được can ngăn và N1 bỏ về nhà cách đám cưới khoảng 300m. Tính chạy vào nhà bếp của T2 để lấy hung khí thì được ông V2 và T1 ngăn lại. Tính đánh vào mặt T1 01 cái và nói “thôi được rồi, tao về”. Sau đó, T chạy xe máy đến tiệm tạp hóa của chị Lê Thị Hoàng L2 ở gần nhà T2, mua 01 cây dao (loại dao Thái Lan, cán bằng nhựa, màu vàng, lưỡi màu trắng bằng kim loại, mũi nhọn), rồi lên xe quay lại tìm N1. Khi đến trước nhà N1, thời điểm này ông Bùi Văn Đ2 (là cha ruột của N1) đi bán cá vừa về đến nhà, T thấy ông Đ2 nên hỏi: “Nô đâu rồi”?, ông Đ2 quay ra chưa kịp nói gì thì T dùng dao đâm ông Đ2 01 nhát trúng vào hông bên phải. Bà Nguyễn Thị Cẩm T3 là vợ ông Đ2 đang ngồi rửa chén cách đó khoảng 10 mét, nhìn thấy nên truy hô kêu cứu. Lúc này, N1 đang trong nhà nghe thấy nên chạy ra cầm cây gỗ đánh T. Tính đưa tay lên đỡ, đồng thời dùng dao đâm lại vào người N1 nhiều nhát, trúng vùng bụng trái, vùng bụng hông trái, khuỷu tay trái và cẳng tay trái (tổng cộng 04 nhát). Khi bị đâm, N1 lùi lại và chạy vào đứng cặp phía trong hàng rào. N1 nói: “Mày đâm tao và cha tao lồi ruột rồi, mày về đi, ở đó là người ta đập mầy đó”. Tính mới lên xe chạy lại nhà của T2 gặp ông Lê Viết T4, T nói “tôi xử 02 cha con ông N2 rồi”. Ông T4 sợ T đâm người khác nữa nên khuyên T đưa dao cho ông T4. Sau nhiều lần thuyết phục, T đưa dao cho ông T4, ông T4 kêu Tính đi đi không thôi người nhà ông Đ2 đến sẽ có chuyện nữa. Sau đó, T đến Công an đầu thú. Sau khi bị đâm, do vết thương quá nặng nên ông Đ2 đã tử vong trên đường chuyển đến bệnh viện, còn N1 nhập viện điều trị đến ngày 13/4/2022 được ra viện.
* Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 308 ngày 02/5/2022 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận đối với Bùi Văn Đ2 như sau:
- Các kết quả chính
+ Vùng bụng phải cách đường trắng giữa bụng 7cm và sát bờ sườn có vết thương kích thước 10cm x 4,5cm, bờ mép vết thương sắc gọn, sâu vào ổ bụng, lồi ruột và mạc nối ra ngoài.
+ Tụ máu da cơ vùng mạn sườn phải tại vị trí vết thương.
+ Đứt sụn sườn 7,8 bên phải dài 2,5cm.
+ Ổ bụng có khoảng 1000ml máu loãng và 500g máu cục.
+ Đứt thủng gan phải dài 5,5cm, sâu 7cm.
- Nguyên nhân tử vong: Sốc mất máu cấp do vết thương thấu bụng gây đứt thủng gan phải.
- Vật gây thương tích: Vết thương trên người Bùi Văn Đ2 dẫn đến chết có đặc điểm phù hợp với đặc điểm của vết thương do vật sắc nhọn gây nên.
* Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 445 ngày 25/7/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh K kết luận thương tích trên người của Bùi Văn N1 như sau:
- Dấu hiệu chính qua giám định:
+ Sẹo phần mềm vùng bụng hông trái, cẳng tay trái.
+ Vết thương vùng bụng trái thấu bụng gây thủng dạ dày, đã được phẫu thuật khâu lỗ thủng. Hiện còn sẹo phẫu thuật đường trắng giữa bụng.
+ Vết thương vùng khuỷu tay trái đứt thần kinh trụ, đã được phẫu thuật khâu thần kinh. Hiện tại tổn thương bán phần dây thần kinh trụ trái, teo cơ cẳng tay và cơ gian cốt bàn tay.
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 48%.
* Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 48/TgT ngày 24/01/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh K kết luận thương tích trên người của Phan Thành V1 như sau:
- Dấu hiệu chính qua giám định:
+ Sẹo vùng chẩm phải và vùng tai phải.
+ Gãy xương đốt bàn ngón V và đốt I ngón V bàn tay phải. Hiện tại cứng khớp bàn ngón và khớp liên đốt gây hạn chế vận động ngón V.
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 18%.
- Vật gây thương tích:
+ Thương tích vùng chẩm phải và vùng tai phải do vật có cạnh sắc gây nên; Vật chứng (các mảnh vỡ thủy tinh) gây được thương tích này.
+ Thương tích gãy đốt bàn ngón V và đốt I ngón V bàn tay phải do vậy tày gây nên; (Ghế xếp) gửi giám định gây được thương tích này.
* Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 444 ngày 25/7/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh K kết luận thương tích trên người Nguyễn Hoàng T như sau:
- Dấu hiệu chính qua giám định:
+ Hiện tại vùng mắt trái và vùng cẳng tay phải không có dấu vết thương tích.
+ Sẹo phần mềm ngón IV và ngón V bàn tay phải.
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 02%.
* Việc thu giữ, xử lý vật chứng
- 01 áo khoát màu xanh, thân trước bên phải có vết đứt vải dài 14cm.
- 01 nón bảo hiểm màu trắng viền đen có chữ “PEGA”.
- 01 đôi dép da màu nâu.
- 01 quần vải dài màu đen.
- 02 mảnh vỡ bằng nhựa màu đỏ không rõ hình (mảnh vỡ của ghế nhựa).
- 03 đoạn cây tre (01 đoạn dài 66cm, đường kính 2cm; 01 đoạn 74cm, đường kính 2,5cm; 01 đoạn dài 111cm, đường kính 2,5cm).
- 01 đôi giày màu trắng.
- 01 nón bảo hiểm màu đen.
- 01 ghế xếp, khung ghế bằng kim loại dạng trụ tròn, được sơn màu vàng, bề mặt nhẵn, có chỗ bị rỉ sét và bong tróc sơn; phần mặt ghế và tựa lưng được đan bằng nhựa màu đen.
- 11 mảnh vỡ thủy tinh có kích thước không đồng dạng, các mảnh vỡ có nhiều gốc cạch sắc nhọn khác nhau.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2023/HS-ST ngày 22 tháng 3 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang đã quyết định:
1. Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 40 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Giết người”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T hình phạt tử hình
2. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 5 (Năm) năm tù.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là tử hình.
Căn cứ khoản 4 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Hoàng T để đảm bảo việc thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Ngày 22 tháng 3 năm 2023, bị cáo Nguyễn Hoàng T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị cáo xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt vì cho rằng bị cáo chỉ định đến nhà của Bùi Văn N1 để méc cha mẹ của N1 về việc N1 đánh bị cáo tại đám cưới thì bị ông Bùi Văn Đ2 cùng N1 mang ghế, mang dao ra để đánh đuổi nên bị cáo mới đánh trả lại. Bị cáo thừa nhận trên đường đi đến nhà bị hại đã ghé mua dao mang theo và chính bị cáo là người đã đâm ông Bùi Văn Đ2 và Bùi Văn N1. Bị cáo cũng thừa nhận đã trực tiếp gây thương tích cho ông Phan Thành V1. Quá trình điều tra đã tự nguyện khai báo, không bị ép cung, nhục hình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định, hợp lệ.
Về tội danh và điều khoản đã truy tố, xét xử bị cáo là có căn cứ. Án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và vận dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ để tuyên phạt đối với bị cáo.
Về nội dung kháng cáo: Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng xét hành vi phạm tội có tính nguy hiểm cao độ, cố ý thực hiện tội phạm đến cùng. Ngoài thực hiện hành vi cố ý gây thương tích cho người khác, bị cáo còn thực hiện hành vi giết người thuộc tình tiết phạm tội có tính chất côn đồ và thực hiện hành vi đối với 02 người trở lên, hậu quả gây ra đặc biệt nghiêm trọng làm một người chết còn một người bị tổn thương nặng. Mặc dù gia đình bị cáo có bồi thường thêm một phần sau khi tuyên án sơ thẩm nhưng số tiền bồi thường không đáng kể so với hậu quả bị cáo đã gây ra nên không có tình tiết mới để giảm nhẹ hình phạt theo yêu cầu của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên hình phạt như án sơ thẩm đã tuyên.
Người bào chữa của bị cáo trình bày:
Về tội danh và điều luật án sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là đúng với hành vi thực tế. Tuy nhiên, sau khi án sơ thẩm tuyên dù hoàn cảnh khó khăn nhưng mẹ bị cáo đã cố gắng nộp thêm tiền để khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại. Bị cáo đã rất thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xin chấp nhận kháng cáo, giảm hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo đã hối hận, xin giảm hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hình thức:
Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Quá trình tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng, quyền và nghĩa vụ của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được đảm bảo; các chứng cứ đã được thu thập hợp pháp, khách quan và đầy đủ để giải quyết toàn bộ các vấn đề của vụ án. Bị cáo đã được tự nguyện khai báo, không bị ép cung, nhục hình.
Về nội dung:
Căn cứ kết quả điều tra, đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Hoàng T đã sử dụng ly thủy tinh đập vào đầu ông Phan Thành V1 vào ngày 26/12/2021 gây tổn hại đến sức khỏe cho ông V1 18%; ngày 03/4/2022 bị cáo lại có hành vi dùng dao đâm ông Bùi Văn Đ2 và Bùi Văn N1 ngay tại nhà ông Đ2 sau khi có cự cãi với N1 tại đám cưới nhà người quen, hậu quả ông Đ2 tử vong và N1 bị tổn hại sức khỏe 48%. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt đã có ý định và đi mua dao sau đó tìm đến tận nhà bị hại để giải quyết mâu thuẫn. Khi gặp ông Đ2 bị cáo đã ngay tức khắc xông vào hành hung và gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng dù không có mâu thuẫn gì với ông Đ2. Án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Giết người” và “Cố ý gây thương tích” với các tình tiết định khung theo điểm a, n khoản 1 Điều 123, điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, không oan sai.
Về nội dung kháng cáo:
Bị cáo kháng cáo xin giảm án với lý do đã nêu trong đơn và tại phiên tòa phúc thẩm. Mặc dù sau khi xét xử sơ thẩm gia đình bị cáo có bồi thường thêm nhưng vẫn chưa bồi thường đầy đủ theo yêu cầu của gia đình bị hại như án sơ thẩm đã tuyên. Xét thấy án sơ thẩm đã vận dụng đầy đủ các tình tiết định khung, giảm nhẹ và xem xét toàn diện nội dung vụ án, mức độ hành vi và hậu quả xảy ra để áp dụng một mức án tương xứng với hành vi của bị cáo. Do hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm, hậu quả gây ra đặc biệt nghiêm trọng nên hình phạt đã tuyên đối với bị cáo cần nghiêm khắc. Bị cáo không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới do đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo.
Ghi nhận gia đình bị cáo đã nộp thêm các khoản tiền khắc phục hậu quả theo các biên lai thu số 0008694 ngày 05/6/2023, số 0009901 ngày 16/6/2023 và nộp án phí theo Biên lai số 0008693 ngày 05/6/2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang. Khoản tiền này sẽ được giải quyết trong giai đoạn thi hành án.
Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Giết người” và “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm a, n khoản 1 Điều 123, điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52, Điều 38; Điều 40; Điều 55 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Hoàng T tử hình về tội “Giết người” và 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Tổng hợp hình phạt của 02 tội bị cáo phải chấp hành là tử hình.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Ghi nhận gia đình bị cáo đã nộp thêm các khoản tiền khắc phục hậu quả theo các biên lai thu số 0008694 ngày 05/6/2023, số 0009901 ngày 16/6/2023 và nộp án phí theo Biên lai số 0008693 ngày 05/6/2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang. Khoản tiền này sẽ được giải quyết trong giai đoạn thi hành án.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Hoàng T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo có quyền làm đơn trong thời hạn 07 ngày để gửi Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để xin ân giảm hình phạt. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao (1); - VKSND cấp cao tại TP.HCM (1); - TAND tỉnh Kiên Giang (2); - VKSND tỉnh Kiên Giang (1); - Cục THADS tỉnh Kiên Giang (1); - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang (1); - CA tỉnh Kiên Giang (1); - Trại tạm giam - CA tỉnh Kiên Giang (2); - Người tham gia tố tụng (2); - Lưu VP(3), HS(2). 17b.NHT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thụy Vũ |