vanban.org

Bản án 587/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ

phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Phạm Thị Hồng G: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Hồng Gấm-Nguyễn Thanh Hải"
  • Tòa quyết gì? vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 587/2019/HNST
Ngày: 24/6/2019
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Út

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Liên

2. Ông Lê Văn Ngọc

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân

Bình, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên tòa: Ông

Huỳnh Thanh Thành – Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 6 năm 2019 tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Tân Bình,

xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 254/2019/TLST-HN ngày 13 tháng 03 năm

2019 về tranh chấp “ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2019/QĐST-

HN ngày 13 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Hồng G, sinh năm 1986

Địa chỉ : Đường A, phường B, quận C, Tp.HCM

Bị đơn : Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1981

Địa chỉ : Đường A, phường B, quận C, Tp.HCM

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Phạm Thị Hồng G trình bày: Bà G và ông H kết tự nguyện tìm hiểu và tiến

tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 196, ngày 20/9/2012 tại Ủy ban nhân dân phường B, quận C, Tp.HCM.

Sau khi kết hôn vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Nguyên nhân

là do ông H thường xuyên uống rượu, mỗi lần uống rượu hay xúc phạm, đánh đập bà G, bà G đã nhiều lần khuyên nhủ để gia đình được hạnh phúc nhưng ông H không thay đổi. Ngoài ra, vợ chồng còn bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên mâu thuẫn ngày càng thêm trầm trọng. Bà G xác định tình cảm dành cho ông H không còn và không thể hàn gắn được nên yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Thanh H.

Về con chung : Bà G khai có một con chung tên Nguyễn Ngọc Tường V,

sinh ngày 12/8/2012, ly hôn bà G yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà G khai Không có

Ông Nguyễn Thanh H vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng mặc dù đã được

Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa và không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của bà G.

Tại phiên tòa hôm nay bà Phạm Thị Hồng G có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh H vắng mặt không lý do.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận C phát biểu:

- Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng qui định của Bộ luật tố

tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

- Về nội dung: Xét thấy các chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã đầy đủ, yêu cầu của

nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng

tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về pháp luật tố tụng:

Bà Phạm Thị Hồng G yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thanh H, ông H có nơi

cư trú tại quận Tân Bình nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo qui định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 196, ngày 20/9/2012 do Ủy

ban nhân dân phường B, quận C, Tp.HCM cấp thì quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Thị Hồng G và ông Nguyễn Thanh H là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nên được pháp luật bảo vệ.

Nguyên đơn, bà Phạm Thị Hồng G có đơn xin vắng mặt khi Tòa án tiến hành

xét xử nên Tòa án xét xử vắng mặt bà G là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn, ông Nguyễn Thanh H đã được Tòa án triệp tập hợp lệ đến lần thứ hai

nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về pháp luật nội dung:

Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, lời trình bày của bà Gấm tại các buổi làm việc,

hòa giải, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bà G yêu cầu được ly hôn với ông H, vì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông H thường xuyên uống rượu, đánh đập, xúc phạm bà G, không có sự tôn trọng dành cho vợ, không cùng bà G chăm lo kinh tế gia đình. Ông H đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng của Tòa nhưng vẫn không đến Tòa làm việc và trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà G chứng tỏ

ông H không quan tâm đến hạnh phúc gia đình, không có thiện chí hàn gắn tình cảm,

đoàn tụ gia đình. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà G và ông H đã thật sự trầm trọng, khả

năng hàn gắn tình cảm, đoàn tụ gia đình là không có, mục đích hôn nhân không đạt

nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà G là có căn cứ.

Về con chung: Có một con chung tên Nguyễn Ngọc Tường V, sinh ngày

12/8/2012, ly hôn bà G yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu

cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Ông H không trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn

và yêu cầu nuôi con chung của bà G. Do đó, để đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng,

giáo dục và sự phát triển của trẻ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được nuôi

con chung của bà G là có căn cứ. Ghi nhận sự tự nguyện của bà G về việc không yêu

cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà G khai không có nên Hội đồng xét xử không

xem xét giải quyết.

(4) Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà G phải chịu là 300.000

đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,

Điều 186, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273, 280 Bộ luật tố tụng dân sự

năm 2015;

Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình

năm 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường

vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ

phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Phạm Thị Hồng G:

-Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Hồng G được ly hôn với ông Nguyễn

Thanh H.

- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Tường V, sinh ngày

12/8/2012 cho bà Phạm Thị Hồng G trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp

dưỡng nuôi con đối với ông Nguyễn Thanh H do bà Phạm Thị Hồng G không yêu cầu.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay

đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được

thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con mà

không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở

hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người

trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người

không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định pháp

luật Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị Hồng G khai không có.

2. Về án phí:

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Phạm Thị Hồng G phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn)

đồng, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng do bà G đã nộp theo biên lai số 0038007 ngày 05/3/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự quận C

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Bà Phạm Thị Hồng G, ông Nguyễn Thanh H được quyền kháng cáo trong thời hạn

15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền

kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ