vanban.org

Bản án 585/2021/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thanh L. Giao cháu Nguyễn Tấn H, sinh ngày 15/01/2008 cho anh Nguyễn Thanh L trực tiếp nuôi dưỡng.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được c n trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để c n trở hoặc gây nh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Anh Nguyễn Thanh L yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và cấp dưỡng nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thanh L. Giao cháu Nguyễn Tấn H, sinh ngày 15/01/2008 cho anh Nguyễn Thanh L trực tiếp nuôi dưỡng.
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ Q
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 585/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 03.8.2021
V/v: “Thay đổi người trực tiếp nuôi con
sau khi ly hôn, về cấp dưỡng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Khổng Lan Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Bích Hợp

2. Ông Phạm Ngọc Đông

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Thế Nữ Diệu Hiền là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trần An Vinh – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 8 năm 2021, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 340/2021/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2021về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, về cấp dưỡng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2021/QĐXX-ST ngày 14 tháng 7 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thanh L, sinh năm: 1977; Địa chỉ: 538 đường THĐ, Tp. Q, tỉnh Bình Định.

- Bị đơn: Chị Đào Thị Ngọc Th, sinh năm: 1981; Địa chỉ: Tổ 6, KV5, P. NP, Tp. Q, tỉnh Bình Định.

Các đương sự có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 4 năm 2021 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn anh Nguyễn Thanh L trình bày:

Anh và chị Đào Thị Ngọc Th thuận tình ly hôn theo Quyết định số 84/QĐST-HNGĐ ngày 10/02/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Q. Theo đó, chị Th được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Tấn H, sinh ngày 15/01/2008; anh có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 3/2020 cho đến khi cháu H thành niên. Tuy nhiên, sau khi ly hôn, cháu H ở với chị Th được 02 tháng thì bất mãn, chán nản nên cháu đã tự ý về ở với anh từ đó cho đến nay. Từ khi cháu H chuyển đến ở với anh thì anh là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và đưa đón cháu đi học hằng ngày. Nay anh khởi kiện yêu cầu Tòa giao cháu H cho anh trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu chị Th cấp dưỡng nuôi con.

Bị đơn chị Đào Thị Ngọc Th trình bày:

Chị và anh Nguyễn Thanh L thuận tình ly hôn theo Quyết định số 84/QĐST-HNGĐ ngày 10/02/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Q. Chị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Tấn H, sinh ngày 15/01/2008; anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu H 3.000.000đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 3/2020 cho đến khi cháu H thành niên. Sau khi ở với chị một thời gian, tháng 4/2020 cháu H về ở với anh L. Chị đến nhà thăm cháu H thì anh L và mẹ anh L đánh chị, chị đã làm đơn báo báo Công an phường THĐ, TP. Q. Nay anh L yêu cầu Tòa án giao cháu H cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, chị có ý kiến như sau: Nếu cháu H về ở với anh L chị đồng ý, vì trên thực tế từ tháng 4/2020 cháu H về ở với anh L chị vẫn tôn trọng ý kiến của cháu và không có ý kiến gì. Tuy nhiên, nếu giao cháu H cho anh L nuôi theo thủ tục pháp lý thì chị không đồng ý.

+ Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Q phát biểu việc tuân thủ pháp luật về tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

- Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm x t xử sơ thẩm. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về quan điểm gi i quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 82, 84 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thanh L giao cháu Nguyễn Tấn H cho anh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh L không yêu cầu nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh Nguyễn Thanh L có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và về cấp dưỡng nuôi con với chị Đào Thị Ngọc Th, trú tại địa chỉ: Tổ 6, KV5, P. NP, Tp. Q, tỉnh Bình Định nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định theo quy định tại Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 84/QĐST-HNGĐ ngày 10/02/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Q đã quyết định giao cháu Nguyễn Tấn H, sinh ngày 15/01/2008 cho chị Đào Thị Ngọc Th trực tiếp nuôi dưỡng; anh Nguyễn Thanh L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 3/2020 cho đến khi cháu H thành niên. Tuy nhiên, sau khi ở với chị Th khoảng 2 tháng, cháu H đã tự ý về ở với anh L cho đến nay nên anh yêu cầu Tòa giao cháu H cho anh trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu chị Th cấp dưỡng nuôi con. Chị Th thừa nhận sau khi về ở với chị một thời gian, cháu H đã tự ý về ở với anh L, chị tôn trọng ý kiến của cháu nhưng nếu giao cháu H cho anh L nuôi theo thủ tục pháp lý thì chị không đồng ý.

X t thấy: Việc anh L và chị Th đều có nguyện vọng trực tiếp nuôi cháu H là chính đáng, tuy nhiên giao cháu H cho ai nuôi phải trên cơ sở đảm bảo quyền lợi về mọi mặt để cháu có thể phát triển toàn diện.

Xét điều kiện nuôi con của anh Nguyễn Thanh L: Anh có nơi ở ổn định và hiện đang sống cùng mẹ tại địa chỉ 538 THĐ, Tp. Q. Anh làm gia công hàn tiện các chi tiết cơ khí tại cơ sở S, thu nhập khoảng 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng/tháng. Từ khi cháu H về sống với anh, anh là người trực tiếp chăm lo việc ăn uống, sinh hoạt và đưa đón cháu H đi học tại Trường THCS THĐ, Tp. Q. Trong khi đó, chị Th mở nhà trẻ tư thục tại tổ 6, khu vực 5, P. NP, Tp. Q, tỉnh Bình Định và cũng là nơi chị thuê nhà ở, thu nhập khoảng 17.000.000 đồng/tháng. Tuy nhiên, hiện nay nhà trẻ đóng cửa vì tình hình dịch covid nên thu nhập của chị không ổn định.

Trên thực tế, cháu H về ở với anh L từ tháng 4/2020 đến nay, cháu đã ăn ở, sinh hoạt ổn định tại nhà anh L và quen với môi trường học tập cùng bạn và thầy cô tại Trường THCS THĐ, Tp. Q. Tại bản tự khai ngày 29/4/2021, biên bản lấy lời khai ngày 14/7/2021 cháu H có nguyện vọng muốn được ở c ng ba là anh Nguyễn Thanh L (BL18, 19).

Từ những phân tích trên, Hội đồng x t xử căn cứ vào các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thanh L, giao cháu Nguyễn Tấn H cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: anh Nguyễn Thanh L không yêu cầu nên Tòa không giải quyết.

[2.3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Th phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên Hội đồng x t xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thanh L. Giao cháu Nguyễn Tấn H, sinh ngày 15/01/2008 cho anh Nguyễn Thanh L trực tiếp nuôi dưỡng.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được c n trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để c n trở hoặc gây nh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con khi cần thiết hai bên đều có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

2. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Thanh L không yêu cầu nên Tòa không xem x t giải quyết.

3. Về án phí: Chị Đào Thị Ngọc Th phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Hoàn lại cho anh Nguyễn Thanh L 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002427 ngày 28 tháng 4 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Q.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ