vanban.org

Bản án 583/2024/HSPT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 26/12/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/12/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Quốc T và giữ nguyên bản

án sơ thẩm. Xử phạt: Hồ Quốc T 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? - Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Quốc T và giữ nguyên bản
  • Căn cứ chính? Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 583/2024/HSPT
Ngày: 26-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Vũ Thanh Liêm

Các thẩm phán:

Ông Trần Đức Kiên

Ông Phạm Văn Hợp.

- Thư ký phiên tòa: bà Đoàn Thị Thu Hiền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp

cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên

tòa: ông Đặng Thọ Định, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà

Nẵng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 605/2024/TLPT-HS

ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Hồ Quốc T về tội “Gây rối trật tự

công cộng” do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số

16/2024/HS-ST-NCTN ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh

Phú Yên.

Bị cáo kháng cáo:

Hồ Quốc T, sinh ngày 13/11/2004 tại tỉnh Phú Yên; nơi đăng ký NKTT

và nơi ở hiện tại: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Lao động

tự do; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo:

Không; Giới tính: Nam; con ông Hồ Q và bà Nguyễn Thị H; tiền án, tiền sự:

Không;

Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo khác và những người có quyền

lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa

án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 08/10/2022, thông qua mạng xã hội, Lưu Đức T1 đặt mua 01 khẩu

súng ngắn, màu trắng - đen và 49 viên đạn với giá 6.200.000đ. Sáng ngày 10/10/2022, T1 nhận được súng, đạn, đem về cất giấu trong phòng ngủ nhà mình, đến trưa cùng ngày mang khẩu súng gắn 02 viên đạn ra cánh đồng gần xóm L thuộc thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên để thử súng. Thử bắn được 01 viên, còn 01 viên rớt tại vị trí thử súng. Sau đó, T1 đem súng và 47 viên đạn còn lại ra gần chuồng gà phía sau nhà tại thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên chôn xuống đất cất giấu.

Tối ngày 25/6/2023, Lê P cho rằng nhóm của Lưu Mạnh D ném chai bia

vào nhà P nên đã gọi điện cho một số bạn đến nhà P giúp đi tìm đánh nhóm của D. P biết T1 có súng, đạn nên nói T1 mang theo giúp P đi đánh nhóm của D. T1 đồng ý và mang theo súng gắn 04 viên đạn đến nhà P tại thôn P, xã H, huyện P. Khoảng hơn 22 giờ, P rủ Nguyễn Minh N, Nguyễn Lam T2, Nguyễn Tấn Đ, Nguyễn Quang Đ1, Hồ Quốc T; N rủ Nguyễn Trung S, Nguyễn Minh Q1, Lê Nguyễn Duy L, Nguyễn Văn T3, Lê Nguyễn Nhật Q2, Đào Võ Nhật P1, Kiều Vạn P2, Phạm Huỳnh Chí H1, Phạm Chí N1, Phạm Đồng T4; T4 rủ thêm Nguyễn Cao K, Nguyễn L1; T2 rủ Nguyễn Ngọc T5; T5 rủ Huỳnh Nguyên Xuân H2, Nguyễn Minh P3, Cái T, Phạm Văn C, Trần Văn N2, Võ Lương D1, Đinh Tiến P4, Lê Văn L2, Cao Thế B cùng đến nhà P để đi đánh nhau. S cầm 02 cây ba chia, 01 cây dao phóng lợn; P3, H2 đi lấy 01 cây kiếm đưa cho N2 cầm đến nhà P. P nhờ Tấn Đ chuẩn bị bom xăng.

Đến khoảng 22 giờ 30 phút, nhóm của P đi khoảng 12 chiếc xe mô tô

mang theo hung khí tìm đánh nhóm của D. Quá trình tham gia T điều khiển xe Winner biển số 78E1-302.82 chở P cầm 01 cây ba chia; Tấn Đ điều khiển xe Wave biển số 78H8-0804 chở T1 ngồi giữa cầm 01 khẩu súng gắn 04 viên đạn, một người ngồi sau (không xác định lý lịch) cầm vỏ chai bia; N điều khiển xe Sirius biển số 78F1-368.82 chở Pháp ngồi sau cầm mã tấu; Q2 điều khiển xe Wave biển số 78C1-646.46 chở S cầm 01 cây dao phóng lợn; L điều khiển xe mô tô Airblade biển số 78C1-226.76 chở Minh Q1 và H1 mỗi người cầm 01 chai bom xăng; B điều khiển xe Sirius biển số 78E1-060.95 chở L2 và T5 mỗi người cầm 01 vỏ chai bia; T6 cầm 01 vỏ chai bia điều khiển xe Wave biển số 78E1-486.50 chở C ngồi sau cầm 02 chai bom xăng; N1 điều khiển xe biển số 78G1-294.54 chở L1 ngồi sau cầm 01 cây ba chia; K điều khiển xe 78C1-206.33 chở T4 ngồi sau cầm 04 vỏ chai bia; một người (không xác định lý lịch) chở P3

ngồi sau cầm 04 vỏ chai bia một người (không xác định lý lịch) chở H2 cầm 02

chai bom xăng; một người (không xác định lai lịch) chở N2 ngồi sau cầm 01 cây

kiếm; một người (không xác định lý lịch) chở T2 ngồi sau cầm 01 cây kiếm;

Quang Đ1 điều khiển xe mô tô hiệu Sirius biển số 78E1-272.14 chở một người

ngồi sau không cầm theo vũ khí; P2 điều khiển xe hiệu Sirius 78N3-6951 chở

T3 không cầm theo hung khí. Riêng Võ Lương D1 và Đinh Tiến P4 do xe hết

xăng nên ở lại nhà P không tham gia. Quá trình di chuyển các bị cáo mang theo

hung khí, la hét, chạy nẹt pô, rượt đuổi nhóm thanh niên khác, gây mất an ninh

trật tự trên nhiều tuyến đường thuộc huyện P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. T1 sử

dụng khẩu súng bắn chỉ thiên một phát tại khu vực chợ T7 gần bến xe T, thành

phố T, tỉnh Phú Yên. Lực lượng tuần tra Công an xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên

phát hiện nên nhóm của P bỏ chạy, làm rơi tại hiện trường 03 viên đạn. Ngày

04/7/2023, T1 trực tiếp đưa khẩu súng ngắn cho chị Lê Thị Châu L3 (chị gái của

P) mang đến đưa P giao nộp cho Công an xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.

Ngày 10/01/2024, T1 đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh P giao

nộp 43 viên đạn; 01 lưỡi dao bằng kim loại, 02 thanh kiếm bằng kim loại.

Kết luận giám định số 1639 ngày 11/8/2023 của Phân viện Khoa học hình

sự Bộ C1 tại thành phố Đà Nẵng, kết luận: “Khẩu súng là súng tự chế tạo, không

theo tiêu chuẩn kỹ thuật, thiết kế của nhà sản xuất hợp pháp, có khả năng gây sát

thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe cho con người, phá hủy kết cấu vật

chất tương tự như súng ngắn; hiện tại khẩu súng sử dụng bắn được và thuộc vũ

khí quân dụng; 03 viên đạn là cỡ đạn (5,6x15,5)mm, hiện tại còn sử dụng được

và thuộc vũ khí thể thao”.

Kết luận giám định số 30 ngày 24/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh P,

kết luận: “43 viên đạn bằng kim loại, màu vàng đen, có cùng kích thước, cùng

số hiệu “E” là đạn thể thao, không phải vũ khí quân dụng, là vũ khí thể thao,

thuộc cỡ đạn (5.6x15.5)mm, dùng cho các loại súng thể thao có số hiệu

“ZBROJOVKA BRNO”, “CZ452”, “CZ455”, “Toz8”…. Tất cả 43 viên đạn còn

sử dụng được”.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2024/HS-ST-NCTN ngày 13 tháng 9

năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đã quyết định:

Tuyên bố:

Bị cáo Hồ Quốc T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật

Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Hồ Quốc T 02 (hai) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt

bị cáo thi hành án;

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần tội danh và hình phạt đối

với các bị cáo khác, phần xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, bị cáo Hồ Quốc T có đơn kháng cáo xin giảm

nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hồ Quốc T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo

xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng

xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Quốc T và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án; Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

1.- Bị cáo Hồ Quốc T khai nhận tội, đối chiếu thấy phù hợp với các tài

liệu, chứng cứ đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cở sở kết luận: Tối ngày 25.6.2023, Hồ Quốc T đã được Lê P rủ đi đánh nhóm của Lưu Mạnh D thì T đồng ý tham gia. T dùng xe mô tô chở P cùng với một số bị cáo khác mang theo hung khí gồm súng đạn, bom xăng, ba chia, dao phóng lợn, kiếm, vỏ chai bia chạy trên nhiều tuyến đường xã H, huyện P và thành phố T, tỉnh Phú Yên, nẹt pô, rượt đuổi nhóm thanh niên khác, Lưu Đức T1 còn dùng súng bắn một phát chỉ thiên gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự xã hội.

Hành vi nêu trên của bị cáo Hồ Quốc T đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú

Yên xét xử về tội “Gây rối trật công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

2.- Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất nghiêm trọng của vụ án,

mức độ phạm tội, đồng thời xem xét tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Hồ Quốc T được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và xử phạt Hồ Quốc T với mức án 02 năm tù là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Quốc T và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

3.- Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Hồ Quốc T

phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4.-Những phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo,

kháng nghị nên không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

1.- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Quốc T và giữ nguyên bản

án sơ thẩm.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình

sự:

Xử phạt: Hồ Quốc T 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2.- Về án phí: Hồ Quốc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc

thẩm.

3.- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về phần tội danh và hình phạt

đối với các bị cáo Lưu Đức T1, Lê P, Lê Minh N3, Nguyễn Lam T2, Nguyễn

Tấn Đ, Nguyễn Ngọc T5, Huỳnh Nguyên Xuân H2, Nguyễn Minh P3, Lê Văn

L2, Cái T, Nguyễn Trung S, Nguyễn Quang Đ1, Đào Võ Nhật P1, Trần Văn N2,

Phạm Văn C, Phạm Huỳnh Chí H1, Cao Thế B, Nguyễn Duy L, Lê Nguyễn

Nhật Q2, phần xử lý vật chứng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có

hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ