vanban.org

Bản án 581/2022/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 23/08/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/08/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Tấn Đ, giữ nguyên Bản án số: 182/2022/HS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn Đ 13 (mười ba) năm tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 04/11/2020. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Tấn Đạt - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Tấn Đ, giữ nguyên Bản án số: 182/2022/HS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 581/2022/HS-PT
Ngày: 23-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Tuấn Vinh

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thu Thủy

Bà Nguyễn Thị Thụy Vũ

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Nhi – Thư ký viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Dũng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23/8/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 366/2022/TLPT- HS ngày 10 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo Huỳnh Tấn Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 182/2022/HS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo: Huỳnh Tấn Đ; giới tính: Nam; sinh ngày 01 tháng 02 năm 1982, tại: tỉnh Bình Định; hộ khẩu thường trú: Thôn Phú Gia, xã Cát Tường, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định; nơi ở: Căn hộ 107 Chung cư 10 Mẫu, đường Nguyễn Duy Trinh, khu phố 4, phường Bình Trưng Đông, Thành phố Thủ Đức (Quận 2 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; trình độ chuyên môn: Thạc sỹ luật; nghề nghiệp, chức vụ khi phạm tội: Thư ký - Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh; con ông Huỳnh L, sinh năm: 1951 và bà Tăng Thị H, sinh năm: 1955; gia đình bị can có 03 người (lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1992) bị can là con lớn trong gia đình; bị can có vợ là Nguyễn Thị Ngọc S, sinh năm: 1982 và có 02 con, lớn sinh năm 2010 và nhỏ sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: không.

Bị can bị bắt tạm giam từ ngày 04/11/2020, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Chí Hòa, Công an Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo theo chỉ định của Tòa án: Luật sư Nguyễn Trần Thiên - Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Tấn Đ là Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định điều động của Tòa án nhân dân tối cao số: 1248/QĐ-TANDTC ngày 01/8/2018, được lãnh đạo Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh phân công làm nhiệm vụ tiếp nhận, nghiên cứu phân loại đơn kháng cáo tại Phòng hành chính tư pháp - Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi tiếp nhận, nghiên cứu phân loại đơn kháng cáo của các đương sự gửi đến Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh (có số điện thoại kèm theo trong đơn), Đ biết được số điện thoại của những người có liên quan, nên đã chủ động gọi đến số điện thoại của các bị cáo và nguyên đơn, thông báo Đ là người tiếp nhận đơn của các bị cáo và nguyên đơn, đồng thời đặt vấn đề, muốn hỗ trợ, giúp đỡ gì thì liên lạc với Đ, từ đó các bị cáo (trong vụ án hình sự) và nguyên đơn đã gọi điện, gặp trực tiếp và trao đổi, đặt vấn đề nhờ Đ giúp đỡ, Đ đã yêu cầu các bị cáo và nguyên đơn phải đưa tiền cho Đ, để Đ lo cho họ được hưởng án treo, giảm nhẹ hình phạt và thắng kiện, việc làm trên do Huỳnh Tấn Đ tự chủ động thực hiện chứ không theo yêu cầu hay chỉ đạo của ai, cũng không có ai biết được có sự việc liên hệ, trao đổi như nêu trên.

Để tạo lòng tin cho các bị cáo và nguyên đơn thực hiện việc chuyển khoản và đưa tiền, Đ đã chủ động cho xem thẻ Thư ký viên, xác định hiện đang công tác tại Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh, khi tiếp xúc và trao đổi trực tiếp. Thông qua hành vi và thủ đoạn như trên, Đ đã chiếm đoạt của các bị cáo trong vụ án hình sự “đánh bạc và tổ chức đánh bạc” gồm có: Võ Minh H, Vũ Doãn C, Nguyễn Đỗ K, Nguyễn Đình Mai, Trương Xó, Đinh Thị Hoa và Nguyên đơn trong vụ án “Tranh chấp dân sự” là ông Nguyễn Văn Ng với tổng số tiền chiếm đoạt là 931.000.000đ, số tiền trên Đ đã tiêu xài hết vào mục đích tiêu xài cá nhân. Cụ thể như sau:

Vụ 1: Ngày 21/12/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Nông ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Võ Minh H, Võ Văn Lực, Phạm Văn Minh, Vũ Doãn C, Vũ Ngọc Phong, về tội “Tổ chức đánh bạc”; Các bị can Nguyễn Đỗ Thanh, Trương Xó, Nguyễn Văn Hoàng, Nguyễn Đình Mai, Hoàng Đức Thái, Nguyễn Đỗ Thiện, Đinh Thị Hoa, và Nguyễn Đỗ K, về tội “Đánh bạc”.

Ngày 10/7/2019 Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông, đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm vụ án “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc”, tại Bản án số 31/2019/HS-ST, tuyên phạt: Các bị cáo Võ Minh H 02 năm tù, Võ Văn L 01 năm 06 tháng tù, Vũ Doãn C 01 năm 06 tháng tù, Phạm Văn M 01 năm 06 tháng tù, cùng về tội “Tổ chức đánh bạc”; Vũ Ngọc P bị xử phạt 50.000.000đ, Nguyễn Đỗ T 03 năm 06 tháng tù, Trương X01 năm 09 tháng tù, Hoàng Đức T 01 năm 06 tháng tù, Đinh Thị H 01 năm 06 tháng tù, Nguyễn Đỗ K 01 năm 06 tháng tù, Nguyễn Đình M 09 tháng tù, Nguyễn Đỗ Th 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và Nguyễn Văn Hbị xử phạt 25.000.000đ, cùng về tội “Đánh bạc”.

Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 10/7/2019, các bị cáo: Võ Minh H, Võ Văn L, Phạm Văn M, Vũ Doãn C, Vũ Ngọc P, Trương X, Nguyễn Đình M, Hoàng Đức T, Đinh Thị H, Nguyễn Đỗ Kh, Nguyễn Văn H, Nguyễn Đỗ Th có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Ngày 23/7/2019, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông ban hành Quyết định số 3011/QĐ-VKS- P1 kháng nghị đề nghị không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với Vũ Ngọc P và Nguyễn Văn H, không áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo Nguyễn Đỗ Th mà áp dụng hình phạt tù có thời hạn, đồng thời tăng hình phạt tù đối với bị cáo Nguyễn Đình Mai.

Trong thời gian Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và chờ ngày đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, vào khoảng đầu tháng 01 năm 2020, Huỳnh Tấn Đ chủ động gọi điện thoại cho ông Vũ Doãn C, tự xưng là thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh, nói sẽ lo cho các bị cáo có kháng cáo và bị kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông được giảm nhẹ hình phạt theo mong muốn với điều kiện, ai đồng ý thì phải chuyển tiền vào tài khoản cá nhân của Đ, mỗi người là 150.000.000đ, Đ chủ động nhắn tin số tài khoản 0201003475200 mở tại Ngân hàng Vietcombank Chi nhánh Thủ Thiêm, tên chủ tài khoản là Huỳnh Tấn Đ cho ông C. Sau đó ông Vũ Doãn Cđã thông báo lại cho các bị cáo Võ Minh H, Nguyễn Đỗ K, Trương X, Đinh Thị H, Nguyễn Đình M biết, họ đồng ý và đã đưa tiền cho ông C nhờ chuyển tiền vào tài khoản của Đ để lo cho họ được giảm nhẹ hình phạt, cụ thể như sau: Nguyễn Đỗ K 90.000.000đ; Nguyễn Đình M 65.000.000đ; Đinh Thị H 100.000.000đ và riêng phần tiền của ông Vũ Doãn C 145.000.000đ. Tổng số tiền của ông C và các bị cáo trên đã đưa và nhờ ông C chuyển vào tài khoản của Huỳnh Tấn Đ là 400.000.000đ. Sau đó, do các bị cáo trên chưa chuyển đủ tiền theo yêu cầu, Huỳnh Tấn Đ nhiều lần chủ động gọi điện thoại cho các bị cáo Võ Minh H, Nguyễn Đỗ K, Nguyễn Đình M, Đinh Thị H, hối thúc yêu cầu các bị cáo này phải nhanh chóng chuyển tiền vào tài khoản của Đ, đồng thời Đ đã gửi số tài khoản của mình cho các bị cáo, nên các bị cáo Võ Minh H, Nguyễn Đỗ K, Nguyễn Đình M, Đinh Thị H, đã chuyển tiền vào tài khoản của Huỳnh Tấn Đ cụ thể: Nguyễn Đỗ K chuyển khoản 01 lần 40.000.000đ, Nguyễn Đình M chuyển khoản 02 lần 85.000.000đ (lần 1 chuyển khoản 50.000.000đ, lần 2 chuyển khoản 35.000.000đ), Võ Minh H chuyển khoản 01 lần 50.000.000đ, Đinh Thị H chuyển khoản 01 lần 6.000.000đ, Riêng ông Trương Xó sau khi nghe ông Vũ Doãn C nói lại và cho số điện thoại của Huỳnh Tấn Đ, ông Xó đã tự mình liên lạc và gặp trực tiếp Đ, được Đ hứa giúp cho ông Xó được giảm nhẹ hình phạt, Đ yêu cầu và ông Trương Xó đã chuyển vào tài khoản của Đ 150.000.000đ. Tổng số tiền mà các bị cáo đã chuyển vào tài khoản của Đ là 731.000.000đ, số tiền này được chuyển vào tài khoản số 0201003475200 mở tại Ngân hàng Vietcombank - Chi nhánh Thủ Thiêm, tên chủ tài khoản là Huỳnh Tấn Đ.

Ngày 24/7/2020, Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, tại Bản án số 416/2020/HS-PT của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên phạt các bị cáo Võ Minh H, Vũ Doãn C, Trương X, Đinh Thị H, Nguyễn Đỗ Kh đều y án sơ thẩm, riêng bị cáo Nguyễn Đình M, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện KSND tỉnh Đắk Nông, tăng hình phạt từ 09 tháng tù lên thành 12 tháng tù.

Sau khi xét xử phúc thẩm, các bị cáo: H, C, X, K, H, M đã nhiều lần gọi điện cho Huỳnh Tấn Đ để đòi lại tiền nhưng Đ không trả và không liên lạc được với Đ, nên các bị cáo đã làm đơn tố cáo Huỳnh Tấn Đ đến Công an Quận 2, thành phố Hồ Chí Minh.

Vụ 2: Ngày 30/10/2019, Tòa án nhân dân tỉnh ĐắkNông xét xử vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” mà ông Nguyễn Văn Ng là nguyên đơn. Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Văn Ng đã kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Sau khi nhận được đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn Ng, Huỳnh Tấn Đ chủ động nhắn tin cho ông Ng giới thiệu mình là thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh, thông báo đã nhận được đơn kháng cáo của ông Ng và hỏi ông Ng có cần giúp đỡ gì không. Sau đó ông Ng đã gọi điện thoại thì Đ nói với ông Ng muốn cần hỗ trợ, giúp đỡ gì thì trực tiếp xuống thành phố Hồ Chí Minh để gặp trực tiếp Đ, chứ Đ không trao đổi qua điện thoại. Ông Ng xuống thành phố Hồ Chí Minh gọi điện thoại cho Đ và được hướng dẫn đến quán cà phê Thịnh (đường Lê Văn Thịnh, phường Bình Trưng Tây, quận 2, thành phố Hồ Chí Minh), tại đây ông Ng có đưa các tài liệu liên quan đến vụ kiện tranh chấp quyền sử dụng đất cho Đ xem, sau khi xem qua tài liệu, Đ nói với ông Ng theo giá trị tài sản tranh chấp của ông Ngọc, nếu muốn thắng kiện thì phải chịu chi phí 200.000.000đ, ông Ng đồng ý. Đến ngày 16/11/2019, ông Ng gọi điện cho Đ và được Đ hẹn gặp tại quán cà phê Thịnh để đưa tiền, tại đây ông Ng đã đưa cho Đ 50.000.000đ, Đ nhận và có viết giấy nhận tiền của ông Ng 50.000.000đ, đồng thời Đ yêu cầu ông Ng nhanh chóng lo chuẩn bị số tiền còn lại là 150.000.000đ để đưa sớm cho Đ, ông Ng hứa trong vòng 01 tháng sẽ đưa đủ cho Đ số tiền còn lại, trong khoảng thời gian này Đ nhiều lần gọi điện cho ông Ng hối thúc ông Ng nhanh chóng đưa cho Đ số tiền còn lại. Đến ngày 11/12/2019, tại quán cà phê Thịnh, ông Ng đã đưa cho Đ 150.000.000đ, Đ nhận tiền và viết giấy nhận tiền trên cùng một mặt của giấy nhận tiền ngày 16/11/2019 (ông Ng đưa giấy cho Đ tự viết). Sau 02 lần nhận đủ số tiền 200.000.000đ, Đ hứa nếu không thắng kiện thì sẽ trả lại số tiền trên cho ông Ngọc. Đến ngày 19/6/2020, Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đưa vụ án ra xét xử, tại Bản án số: 180/2020/DS-PT, quyết định không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Ng. Sau khi xét xử, ông Ng nhiều lần gọi điện thoại cho Đ để đòi lại tiền và Đ hứa trả nhưng không trả và sau đó không liên lạc được với Đ nên ông Ng làm đơn tố cáo.

Trong quá trình điều tra, bị can Huỳnh Tấn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị can phù hợp với các lời khai của các bị hại cùng các chứng cứ, tài liệu mà Cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Bị can Huỳnh Tấn Đ thừa nhận đã chiếm đoạt số tiền 731.000.000 đồng của các bị cáo trong vụ án “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc” gồm: Võ Minh H 50.000.000đ; Vũ Doãn C 145.000.000đ; Nguyễn Đỗ K 130.000.000đ; Nguyễn Đình M 150.000.000đ; Trương X 150.000.000đ và Đinh Thị H 106.000.000đ hứa giúp cho các bị cáo được hưởng án treo và giảm nhẹ hình phạt theo nội dung kháng cáo của các bị cáo, nhưng sau đó bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh tuyên không có bị cáo nào được hưởng án treo và giảm nhẹ hình phạt như Đ đã hứa, đồng thời Đ cũng không trả lại tiền cho các bị cáo như đã hứa.

Huỳnh Tấn Đ còn thừa nhận đã chiếm đoạt số tiền 200.000.000 đồng của ông Nguyễn Văn Ng và hứa sẽ lo cho ông Ng thắng kiện trong vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sử dụng đất và Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” mà ông Ng là nguyên đơn đã kháng cáo đến Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh. Số tiền này sau khi nhận trực tiếp từ ông Ngọc, Đ đã viết giấy nhận tiền và hứa nếu vụ kiện của ông Ng không thắng kiện, Đ sẽ trả tiền lại cho ông Ngọc. Nhưng khi có bản án phúc thẩm quyết định không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Ngọc, thì ông Ng yêu cầu Đ trả lại tiền, nhưng Đ cũng không trả lại như đã hứa.

Tổng số tiền mà Huỳnh Tấn Đ chiếm đoạt được của các bị cáo trong vụ án “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc” và nguyên đơn (ông Nguyễn Văn Ng) là 931.000.000đ, trong quá trình điều tra lúc đầu Đ khai, đã sử dụng một phần khoảng 70.000.000 đồng vào chi tiêu cá nhân và gia đình, phần còn lại Đ đã đưa cho các Thẩm phán trong Hội đồng xét xử các vụ án nêu trên, nên khi các bị cáo và nguyên đơn yêu cầu trả lại tiền, Đ không thể thu hồi lại được số tiền đã đưa cho các Thẩm phán nên không trả được cho các bị cáo và nguyên đơn. Sau đó, Đ đã thay đổi lời khai và thừa nhận toàn bộ số tiền 931.000.000đ Đ đã chiếm đoạt của các bị cáo và nguyên đơn, đã sử dụng để trả nợ và chi tiêu cá nhân chứ không đưa cho ai trong các Hội đồng xét xử mà đã khai trước đó.

Các Thẩm phán - Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh được phân công tham gia Hội đồng xét xử các vụ án: Vụ án “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc” gồm: Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh D; Các Thẩm phán khác: Ông Lê Thành L, bà Trần Thị Huyền V. Vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” gồm: Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đắc M; Các Thẩm phán: ông Trần Văn M, bà Phạm Thị D. Các ông, bà trên đều khẳng định: trong quá trình thụ lý hồ sơ kháng cáo, đưa ra xét xử đều không gặp, trao đổi gì với Huỳnh Tấn Đ liên quan đến nội dung kháng cáo của các bị cáo và nguyên đơn Nguyễn Văn Ng, cũng không nhận bất cứ khoản tiền nào từ Đ hay của người khác trong quá trình thụ lý xét xử các vụ án trên.

- Vật chứng:

+ 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, 01 sim điện thoại số 0843285357 của bị can Huỳnh Tấn Đ;

+ 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung A30 màu đen; Sim điên thoại số 0794613456; Sim điện thoại số 0986061049 của bị hại Vũ Doãn C;

+ 01 (Một) USB màu đen hiệu Super -Talent.

Tại bản Cáo trạng số 31/CT-VKSTC- V6 ngày 19/7/2021, của Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã truy tố Huỳnh Tấn Đ về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 355 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 182/2022/HS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn Đ 13 (mười ba) năm tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 04/11/2020.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí, quyền kháng cáo.

Ngày 05/5/2022 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như án sơ thẩm đã nêu. Bị cáo kháng cáo với lý do bị cáo là lao động chính, do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Mức hình phạt sơ thẩm tuyên xử đối với bị cáo là nặng, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Người bào chữa cho bị cáo trình bày:

Thống nhất với tội danh “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử.

Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo có nhiều thành tích trong công tác quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, nhân thân tốt, có chú và bà nội là người có công với cách mạng là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Hiện tại, vợ bị cáo đang trên đường đem số tiền 30.000.000đ đến phiên tòa để cho bị cáo khắc phục thêm cho bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng tại cấp phúc thẩm: Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định Bộ luật tố tụng hình sự.

Về tội danh và kháng cáo của bị cáo: Bản án sơ thẩm tuyên bị cáo Huỳnh Tấn Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng tội danh.

Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết giảm nhẹ mới để có cơ sở xem xét, do đó mức án sơ thẩm xử phạt là phù hợp, đề nghị HĐXX bác kháng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thật sự nhận thấy lỗi lầm của mình, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được làm lại cuộc đời, sữa chữa sai lầm, chăm sóc mẹ già, nuôi dạy con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về tội danh, mức hình phạt và xét kháng cáo của bị cáo:

Căn cứ vào lời khai của bị cáo, người bị hại, tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Bị cáo Huỳnh Tấn Đ là thư ký của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, được lãnh đạo phân công nhiệm vụ tại Phòng hành chính tư pháp, được giao việc tiếp nhận, phân loại đơn kháng cáo.

Do thiếu tiền tiêu xài và để có tiền trả nợ vay trước đó, nên từ ngày 31 tháng 8 năm 2018 đến tháng 3 năm 2020: Sau khi tiếp nhận, phân loại đơn kháng cáo được gửi từ bưu điện đến Tòa án cấp cao, Huỳnh Tấn Đ biết các bị cáo trong vụ án đánh bạc gồm: Võ Minh H, Võ Văn Lực, Phạm Văn Minh, Vũ Doãn C, Vũ Ngọc Phong, có yêu cầu kháng cáo, Đ đã nhắn tin trao đổi và sau đó có gặp trực tiếp các bị cáo với mục đích hứa hẹn giúp đỡ cho các bị cáo được hưởng án treo, giảm nhẹ hình phạt, các bị cáo đã chuyển tiền vào tài khoản cá nhân của Đ với tổng số tiền là 731.000.000đ; đồng thời cùng với cách thức như trên, Đ yêu cầu ông Nguyễn Văn Ng - nguyên đơn trong vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” đưa Đ số tiền 200.000.000đ, Đ hứa lo cho vụ án dân sự mà ông Ng kháng cáo được thắng kiện.

Xét, bị cáo Huỳnh Tấn Đ có hành vi chủ động cho các bị hại xem thẻ Thư ký viên để xác định là công chức đang công tác tại Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh để tạo niềm tin đối với các bị hại về vị trí công việc của bị cáo, để các bị hại nhầm tưởng bị cáo là người có thẩm quyền xét xử, giải quyết các vụ án phúc thẩm mà các bị hại trong vụ án này kháng cáo, nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản. Hành vi của bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Với tổng số tiền bị cáo Đ đã chiếm đoạt của các bị hại là 971.000.000 đồng, theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật hình sự “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng trở lên”, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc chung thân.

Tòa án cấp sơ thẩm, đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 xử phạt bị cáo 13 năm tù là phù hợp. Đối với lời trình bày của người bào chữa cho bị cáo về việc gia đình bị cáo đang tìm cách khắc phục hậu quả cho bị cáo nhưng không có chứng cứ chứng minh nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có cơ sở để xem xét.

Như vậy, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, nên không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt như người bào chữa cho bị cáo đề nghị; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xét.

Bị cáo không được chấp nhận kháng cáo nên phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Tấn Đ, giữ nguyên Bản án số: 182/2022/HS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn Đ 13 (mười ba) năm tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 04/11/2020.

2. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Huỳnh Tấn Đ phải chịu 200.000đ.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ