- Tranh chấp gì? Tranh chấp về cấp dưỡng — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Đoàn Kim N khởi kiện ông Hoàng Cao H"
- Tòa quyết gì? 116 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 580/2021/HNGĐ-PT Ngày: 08-11-2021 V/v: Tranh chấp về cấp dưỡng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa: Bà Trần Thị Lệ Uyên
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Hoàng Anh
Ông Phan Trịnh Minh Đức
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Tây – Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Ông Tào Minh Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 59/2021/TLPT-HNGĐ ngày
30 tháng 7 năm 2021 về việc: “Tranh chấp về cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn;
Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.
Do Bản án sơ thẩm số 403/2021/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 5 năm 2021
của Tòa án nhân dân Quận P bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3603/2021/QĐ-PT
ngày 11 tháng 10 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đoàn Kim N, sinh năm 1987.
Địa chỉ: 03.04 Chung cư Y, 3441A H, Phường 7, Quận P, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm
1996 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: 107A-B Q, Phường 11, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Hoàng Cao H, sinh năm 1973.
Địa chỉ: 03.04 Chung cư Y, 3441A H, Phường 7, Quận P, Thành phố Hồ Chí
Minh.
- Người kháng cáo: Bà Đoàn Kim N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm nội dung vụ án như sau:
* Nguyên đơn bà Đoàn Kim N do bà Nguyễn Thị M làm đại diện trình
bày:
Bà và ông Hoàng Cao H trước đây đã ly hôn theo Bản án số
348/2019/HNGĐ-ST ngày 23/4/2019 của Tòa án nhân dân Quận P, con chung có hai trẻ tên Hoàng Cao K sinh ngày 09/5/2013 và Hoàng Cao K1 sinh ngày 20/10/2014 giao bà N trực tiếp nuôi dưỡng, ông H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho 02 con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng.
Hiện nay chi phí tối thiếu cho sinh hoạt, học tập của các con đã tăng lên
nên mức cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng không đủ để nuôi dưỡng hai trẻ. Do đó, để đảm bảo điều kiện nuôi trẻ được tốt hơn, bà N khởi kiện yêu cầu ông Hoàng Cao H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho mỗi trẻ là 3.000.000/tháng, tổng cộng hai trẻ là 6.000.000 đồng/tháng.
* Bị đơn ông Hoàng Cao H trình bày:
Ông xác nhận việc ly hôn và cấp dưỡng cho con đúng như bà Đoàn Kim
N trình bày. Quá trình bà N khởi kiện, ông nộp đơn phản tố yêu cầu được nuôi dưỡng trẻ tên Hoàng Cao K1 sinh ngày 20/10/2014, giao bà N tiếp tục nuôi dưỡng trẻ Hoàng Cao K sinh ngày 09/5/2013, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con. Ông không đồng ý tăng mức cấp dưỡng cho con theo yêu cầu của bà N.
Tại Bản án sơ thẩm số 403/2021/HNGĐ-ST ngày 26/5/2021, Tòa án cấp
sơ thẩm đã căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Phí và Lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Kim N về việc thay đổi
mức cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn;
Không chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
của ông Hoàng Cao H.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 10/6/2021, bà Đoàn Kim N nộp đơn kháng cáo bản án.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Nguyên đơn kháng cáo yêu cầu ông Hoàng Cao H cấp dưỡng cho con
mỗi trẻ là 2.000.000 đồng/tháng.
- Bị đơn không đồng ý với yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng cho con của
nguyên đơn. Ông trình bày mức lương của ông 9.000.000 đồng/tháng, ngoài cấp dưỡng cho hai con chung với bà N, ông còn thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho
một người con riêng khác, còn lại dùng chi phí sinh hoạt cá nhân nên ông không
thể tăng tiền cấp dưỡng cho con.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự đã chấp hành đúng quy định của
Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý phúc thẩm và xét xử. Về phía các
đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền của mình theo Bộ luật tố tụng dân sự
quy định.
Về nội dung: Ông Hoàng Cao H có mức lương 9.000.000 đồng/tháng và
có ba người con chưa thành niên đang phải cấp dưỡng, sau khi trừ nghĩa vụ cấp
dưỡng cho ba người con là 5.500.000 đồng, số tiền còn lại chỉ đủ để ông H chi
phí cá nhân. Do đó, kháng cáo của bà Đoàn Kim N yêu cầu tăng mức cấp dưỡng
cho con là không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1
Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của
nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Đoàn Kim N kháng cáo yêu cầu ông Hoàng
Cao H cấp dưỡng cho con chung tên Hoàng Cao K sinh ngày 09/5/2013 và
Hoàng Cao K1 sinh ngày 20/10/2014 mỗi trẻ 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi
các con 18 tuổi, các nội dung khác không có đương sự nào kháng cáo. Căn cứ
Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, phạm vi xét xử phúc thẩm chỉ xem xét lại
phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo, các vấn đề khác không có kháng cáo,
kháng nghị, cấp phúc thẩm không xét.
Về nội dung: Bà Đoàn Kim N và ông Hoàng Cao H trước đây đã ly
hôn theo Bản án số 348/2019/HNGĐ-ST ngày 23/4/2019 của Tòa án nhân dân
Quận P, hai con chung tên Hoàng Cao K sinh ngày 09/5/2013 và Hoàng Cao K1
sinh ngày 20/10/2014 do bà N trực tiếp nuôi dưỡng, ông H cấp dưỡng nuôi con
mỗi trẻ 1.000.000 đồng/tháng.
Xét kháng cáo của bà Đoàn Kim N yêu cầu ông Hoàng Cao H cấp
dưỡng cho con với mức mỗi trẻ 2.000.000 đồng/tháng, Hội đồng xét xử nhận
thấy như sau:
Việc nuôi dưỡng con chung hai bên đều có trách nhiệm như nhau nhằm
đảm bảo nhu cầu thiết yếu của con. Tuy nhiên căn cứ Điều 116 Luật Hôn nhân
và gia đình thì việc cấp dưỡng cho con phải căn cứ vào thu nhập thực tế của
người cấp dưỡng.
Căn cứ Xác nhận lương ngày 24/02/2020 (Bút lục 90) có nội dung lương
hàng tháng của ông H là 9.000.000 đồng, xác nhận này phù hợp với lời khai của
ông H và bảng sao kê tài khoản ngân hàng của ông H, có cơ sở xác định thu
nhập của ông H là 9.000.000 đồng/tháng.
Hội đồng xét xử thấy rằng hiện nay ông H đang cấp dưỡng cho hai người
con chung với bà N là trẻ Hoàng Cao K và trẻ Hoàng Cao K1 với mức 1.000.000 đồng/tháng/01 trẻ theo Bản án số 348/2019/HNGĐ-ST ngày 23/4/2019 của Tòa án nhân dân Quận P. Ngoài ra, ông H còn thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho một người con riêng khác tên Hoàng Thảo T là 3.500.000 đồng/tháng theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 688/2019/QĐST-HNGĐ ngày 25/7/2019 của Tòa án nhân dân Quận P. Đối với mức cấp dưỡng cho con tên Hoàng Thảo T tại quyết định nêu trên không thuộc thẩm quyền xem xét trong vụ án đang giải quyết. Như vậy, ông H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho ba người con chưa thành niên tổng cộng 5.500.000 đồng/tháng nên thu nhập còn lại để ông H chi phí hàng tháng là 3.500.000 đồng. Do đó, nếu tăng mức cấp dưỡng lên 4.000.000 đồng/tháng/hai trẻ theo yêu cầu của bà N thì thu nhập còn lại của ông H sẽ không đủ để ông chi phí sinh hoạt cá nhân.
Đối với bà N, theo Hợp đồng lao động số 0409/2020/HĐLĐ-DBA ngày
01/9/2020 mức lương hàng tháng của bà N là 15.000.000 đồng nên về chi phí thiết yếu nuôi con bà N có thuận lợi hơn ông H.
Từ những nhận định trên, nhận thấy kháng cáo của bà Đoàn Kim N là
không có căn cứ chấp nhận, nghĩ cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Về án phí phúc thẩm: Bà N thuộc trường hợp được miễn án phí phúc
thẩm nên bà không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều
116 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đoàn Kim N.
2. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 403/2021/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 5
năm 2021 của Tòa án nhân dân Quận P, như sau:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Kim N về việc thay đổi
mức cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Hoàng Cao H về việc yêu cầu
thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm
nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở
hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm
nom con của người đó.
Khi có căn cứ, cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5
Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp
nuôi con.
Khi có lý do chính đáng, các bên có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp
dưỡng nuôi con.
3. Về án phí:
- Án phí sơ thẩm: Ông Hoàng Cao H phải chịu 300.000 đồng, được trừ
vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0044859 ngày 11
tháng 01 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận P. Ông Hoàng Cao H
đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Án phí phúc thẩm: Hoàn trả bà Đoàn Kim N 300.000 đồng tiền tạm ứng
án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai số 0046353 ngày 21/6/2021 (người nộp
Nguyễn Thị M) của Chi cục Thi hành án dân sự Quận P.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - Tòa án nhân dân cấp cao tại TPHCM; - VKSND cấp cao tại TPHCM; - VKSND TPHCM; - Cục Thi hành án dân sự TPHCM; - Tòa án nhân dân Quận P; - Chi cục THADS Quận P; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Lệ Uyên |