- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn Phước - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Giao cho Tòa án nhân dân quận Tân Bình lƣu giữ vào hồ sơ vụ án 01 USB chứa hình ảnh ghi nhận Trƣơng Văn P chiếm đoạt điện thoại của anh T ngày 28/3/2018.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58 /2018/HSST Ngày : 12/7/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Xuân O
2/ Ông Trần Minh Đức
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Phi Yến – Thƣ ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 62/2018/TLST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 74/2018/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
TRƢƠNG VĂN P sinh ngày 15 tháng 03 năm 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đăng ký thƣờng trú: thôn 3 xã V, huyện L, tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi ở: không có nơi cƣ trú nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trƣơng A, sinh năm 1956 và bà Lƣơng Thị G, sinh năm 1964; vợ con: chƣa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: từ nhỏ sống cùng gia đình và đi học đến lớp 8 nghỉ học; tạm giữ, tạm giam: 03/4/2018 (có mặt).
Bị hại:
1. Anh Võ Hữu T, địa chỉ: 11 đƣờng C, phƣờng H, quận U, Tp. Hồ Chí Minh (vắng mặt)
2. Chị Lƣơng Thị Đ, địa chỉ: 86/161 đƣờng TC, Phƣờng X, quận B, Tp.Hồ Chí Minh (vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Trần Thị Ngọc O, địa chỉ: 24 đƣờng Th, Phƣờng X, quận B, Tp. Tp.Hồ Chí Minh (vắng mặt)
2. Anh Nguyễn Ảnh Z, địa chỉ: 30 đƣờng T, phƣờng T, quận U, Tp.Hồ Chí Minh (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau: Trƣơng Văn P sống lang thang nhiều ngày và không có tiền tiêu xài nên nảy sinh ý định đi đến chợ khu chợ B, Phƣờng I, quận B, TP.Hồ Chí Minh kiếm tài sản để lấy trộm. Khoảng 15h 52 ngày 28/3/2018, P đi bộ vào khu vực chợ B, ngang qua sạp B20 khu 3D chợ B thì thấy anh Võ Hữu T nằm ngủ trong sạp, bên cạnh có để điện thoại di động hiệu Apple Iphone 6 Plus màu xám đen không có ngƣời trông coi. P bƣớc vào trong sạp dùng tay lấy chiếc điện thoại di động này của anh T bỏ vào túi quần rồi bỏ đi. Sáng ngày 29/3/2018, anh T gọi vào số điện thoại di động của mình gặp P xin chuộc lại. P yêu cầu anh T cung cấp mật khẩu để đi cầm điện thoại. Sau đó, P mang điện thoại tới tiệm cầm đồ Thu O số 24 Đƣờng Th, phƣờng X, quận B, TP.Hồ Chí Minh cầm cố cho chị Trần Thị Ngọc O đƣợc 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm ngàn đồng) và cho địa chỉ để anh T đến tiệm cầm đồ chuộc lại điện thoại và sim với giá 3.570.000 đồng (ba triệu năm trăm bảy mƣơi ngàn đồng). Ngày 30/3/2018, P tiếp tục đi bộ vào khu chợ B để trộm tài sản, Đến 14h00 cùng ngày, P đi ngang sạp 269FA1, chợ B thì thấy chị Lƣơng Thị Đ nằm ngủ, bên cạnh có để điện thoại di động hiệu OPPO A37F màu vàng hồng. P lại gần dùng tay lấy chiếc điện thoại di động này giấu vào trong ngƣời rồi bỏ chạy. Sau đó, P đem điện thoại đi cầm cho anh Nguyễn Ảnh Z đƣợc 1.200.000 đồng tại tiệm cầm đồ Thùy Dƣơng số 30 đƣờng T, phƣờng T, quận U, TP.Hồ Chí Minh. Số tiền do cầm 02 điện thoại có đƣợc P đã tiêu xài hết. Chiều ngày 02/4/2018, P đi bộ vào khu vực lồng chợ B thì bị anh T phát hiện P có đặc điểm giống với đối tƣợng đƣợc camera an ninh ghi lại vào ngày 28/3/2018 nên đã theo dõi, bắt giữ P và bàn giao lại cho Công an Phƣờng I, quận B, TP.Hồ Chí Minh. Tại cơ quan công an, Trƣơng Văn P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đối với chị Nguyễn Thị Ngọc O và anh Nguyễn Ảnh Z khi nhận cầm cố không biết đó là tài sản do P phạm tội mà có nên không có cơ sở xử lý O và An về tội “Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có” theo Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Vật chứng thu giữ:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone Plus 6 màu Đen – Xám và sim số 0905910275 của anh Võ Hữu T (đã trả lại cho bị hại). Gia đình P đã bồi thƣờng cho T số tiền chuộc điện thoại. Anh T có đơn bãi nại và không có yêu cầu bồi thƣờng gì khác. Kết quả định giá trong tố tụng hình sự, điện thoại trị giá 6.000.000 đồng.
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO A37F màu vàng hồng của chị Lƣơng Thị Đ (đã trả lại cho bị hại). Chị Đ có đơn bãi nại và không có yêu cầu bồi thƣờng gì khác. Kết quả định giá trong tố tụng hình sự, điện thoại trị giá 3.000.000 đồng. Đối với anh Z bỏ ra 1.200.000 đồng để cầm điện thoại cho P, anh An không có yêu cầu số tiền này.
- 01 USB chứa hình ảnh ghi nhận Trƣơng Văn P chiếm đoạt điện thoại của anh T ngày 28/3/2018, lƣu hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 53/CT-VKS ngày 12 tháng 06 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Trƣơng Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội và khai giống lời khai tại cơ quan điều tra.
Sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trƣơng Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017, đồng thời đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 09 - 12 tháng tù, về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Trƣơng Văn P, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình đƣợc phân công điều tra giải quyết vụ án, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đƣợc phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ quá trình điều tra, truy tố, diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa thông qua lời khai của bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai của ngƣời làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu đƣợc trong hồ sơ vụ án thì Trƣơng Văn P đã lén lút lấy 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus màu Đen – Xám của anh Võ Hữu T trị giá 6.000.000 đồng vào lúc 15h52 ngày 28/3/2018 tại sạp B20 khu 3D chợ B và lén lút lấy 01 điện thoại di động hiệu Oppo A37F màu vàng hồng của chị Lƣơng Thị Đ trị giá 3.000.000 đồng vào lúc 14 giờ ngày 30/3/2018 tại sạp 269FA1 chợ B, phƣờng I, quận B, TP.Hồ Chí Minh.
Xét vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân đƣợc pháp luật và Nhà nƣớc bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phƣơng. Bản thân bị cáo nhận thức đƣợc hành vi của mình là vi phạm pháp luật, có năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội do lỗi cố ý nên Hội đồng xét xử xét thấy đã đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. [3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Xét bị cáo phạm tội 02 lần là thuộc trƣờng hợp tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội nhiều lần theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Về tình tiết giảm nhẹ: Xét gia đình bị cáo đã bồi thƣờng cho bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã thu hồi trả lại bị hại; bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ đƣợc quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm cho bị cáo một phần hình phạt. [4] Về vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone Plus 6 màu Đen – Xám của anh Võ Hữu T và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A37F màu vàng hồng của chị Lƣơng Thị Đ. Cơ quan cảnh sát điều tra – công an quận Tân Bình đã trả lại cho bị hại là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét lại. Đối với 01 USB chứa hình ảnh ghi nhận Trƣơng Văn P chiếm đoạt điện thoại của anh T ngày 28/3/2018. Xét đây là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tiếp tục lƣu giữ cùng hồ sơ vụ án. [5] Về trách nhiệm dân sự: Ngƣời bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với số tiền 3.500.000 đồng cầm điện thoại Iphone 6 Plus và 1.200.000 đồng cầm điện thoại OPPO A37F, bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết là tiền thu lợi bất chính nên phải nộp ngân sách nhà nƣớc Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 106; Điều 268, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 38; khoản 1 Điều 47; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội;
- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2014; 1. Tuyên bố bị cáo Trƣơng Văn P phạm tội “Trôm cắp tài sản”. Xử phạt: TRƢƠNG VĂN P 10 (mƣời) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2018 2. Về vật chứng:
Giao cho Tòa án nhân dân quận Tân Bình lƣu giữ vào hồ sơ vụ án 01 USB chứa hình ảnh ghi nhận Trƣơng Văn P chiếm đoạt điện thoại của anh T ngày 28/3/2018.
3. Bị cáo phải nộp số tiền 4.700.000 (bốn triệu bảy trăm ngàn) đồng thu lợi bất chính để sung vào ngân sách nhà nƣớc.
4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo đƣợc quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản sao án hoặc ngày Tòa án tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ.
Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sƣ có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Hội đồng xét xử đã giải thích về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án cho đƣơng sự theo quy định tại điều 26 Luật Thi hành án đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - Bị cáo; bị hại; NCQLNVLQ; - Công an quận Tân Bình; - VKSND quận Tân Bình; - Chi cục THADS quận Tân Bình; - TAND, VKSND Tp. Hồ Chí Minh; - Phòng HSNVCS CA Tp. HCM; - Lƣu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Thanh Vân |