- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Hà yêu cầu được ly hôn với ông Trần Văn Thanh"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2023/HNGĐ-ST Ngày 07 - 9 - 2023 V/v ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Trí Thức.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Văn Đê.
2. Bà Nguyễn Thị Thọ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Như Đ - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 57/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2023 về “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 25/2023/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1965. HKTT: Tổ 15, ấp P, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Chỗ ở hiện nay: Tổ A, ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). (vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1976. Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Bà H và ông T tự nguyện chung sống vợ chồng với nhau và có đăng ký kết hôn năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã L, thành phố B. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuân, nguyên do ông T không có việc làm ổn định, thường hay tổ chức ăn nhậu và đánh đập bà. Do không thể chung sống nên năm 2021 bà đã phải thuê nhà trọ ở xã H, thành phố B sinh sống đến nay. Thời gian ở phòng trọ, ông T cũng hay đến gây gổ đánh bà, sự việc bà phải báo chính quyền địa phương giải quyết. Vợ chồng cũng đã ly thân từ đó đến nay không còn quan tâm gì đến nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông T.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Bị đơn ông Trần Văn T: Ông T đã được Tòa án thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng đều vắng mặt không có lý do.
3. Ý kiến đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
- Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đều tuân theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do nên đề nghị xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung vụ án: Bà H và ông T có đăng ký kết hôn năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã L, thành phố B nên hôn nhân hợp pháp. Theo nội dung biên bản xác minh ngày 27/7/2023 tại xã L và ngày 05/8/2023 tại xã H thì quá trình chung sống, ông T thường hay tổ chức ăn nhậu và gây gổ, quậy phá khi bà H ở trọ xã H. Vợ chồng bà H, ông T đã ly thân từ năm 2021 đến nay cho thấy mâu thuẫn vợ chồng là trầm trọng và mục đích hôn nhân không đạt được nên theo quy định tại Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà H được ly hôn với ông T; về con chung: không có; về tài sản chung và nợ chung: đương sự không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần 2 tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.
Nội dung vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T tự nguyện chung sống vợ chồng với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên hôn nhân giữa bà H, ông T là hợp pháp. Bà H cho rằng thời gian chung sống ông T thường hay hay tổ chức ăn nhậu dẫn đến mâu thuẫn gây gổ cãi nhau, do không thể chung sống nên bà phải đi thuê nhà trọ từ năm 2021 và vợ chồng ly thân tới nay, lời khai này phù hợp với nội dung Biên bản xác minh ngày 27/7/2023 tại xã L và ngày 05/8/2023 tại xã H. Quá trình giải quyết vụ án, ông T đều vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu của nguyên đơn, xem như từ bỏ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng bà H và ông T là có thật và trầm trọng, cả hai đã ly thân từ năm 2021 đến nay cho thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H được ly hôn với ông T.
- Về con chung: Bà H xác nhận không có con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu giải quyết.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Án phí: Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Trần Văn T.
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết.
2. Án phí: Bà Nguyễn Thị H phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0005154 ngày 03/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa. Bà H đã nộp đủ tiền án phí.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND, VKSND tỉnh BR-VT; - VKSND TP. Bà Rịa; - Chi cục THADS TP. Bà Rịa; - UBND xã Long Phước, TP. Bà Rịa; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Trí Thức |