vanban.org

Bản án 58/2026/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Lý T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Trần Lý T 3 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 28/11/2025. Tiếp tục tạm giam Trần Lý T để bảo đảm thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Lý T - tàng trữ trái phép chất mà túy - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Lý T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 14
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2026/HSST
Ngày: 30-3-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Tiến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Hữu Hải;

Bà Trần Thị Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Quang Thi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 14 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14 - Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2026/TLST-HS ngày 11/3/2026 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2026/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:

Trần Lý T, sinh năm: 1996 tại Thành phố H; giới tính: Nam; Căn cước công dân số 07906022203; Hộ khẩu thường trú: 122/34/5 T, phường K, Thành phố H; Chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã K, Thành phố H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ văn hoá: 8/12; Họ tên cha: Trần Quý T1, sinh năm: 1973; Họ tên mẹ: Phan Thị Mỹ D; Sinh năm: 1973; Họ tên vợ: Phạm Thị P, sinh năm 1998 (đã ly hôn); bị cáo có 01 người con, sinh năm 2017. Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/11/2025. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Ngãi Giao trại tạm giam số 1, Công an Thành phố H (Bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 03/11/2025, nhận tin báo của quần chúng nhân dân, Công an xã K, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành kiểm tra và phát hiện Trần Lý T có hành vi tràng trữ trái phép 01 túi nilon dạng túi Zíp, viền đỏ được dán kín, bên trong chứa tinh thể rắn không màu trong suốt, để trong hộp giấy màu đen hình chữ nhật, có chữ "CHÍ THIỆN PHARMA" được thu tại bàn trong phòng ngủ của T (có địa chỉ tại ấp T, xã K, Thành phố H), T khai đây là ma tuý đá. Ngoài ra Cơ quan Công an còn thu giữ: 01 hộp giấy màu đen hình chữ nhật, có hình hoa văn, có chữ ""CHÍ THIỆN PHARMA", kích thước 18cm x 23cm x 6,5cm; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, gồm: 01 bình nhựa mầu trắng nâu, dài khoảng 14cm, đường kính 04cm có gắn một nỏ thuỷ tinh dài 13cm bị vỡ một đầu; 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số IMEI 1: 864591056306536, màu xanh đen, có gắn sim điện thoại số 0983939294 (đã qua sử dụng).

Quá trình điều tra, Trần Lý T khai nhận: Số ma tuý bị công an thu giữ có nguồn gốc do T mua của một người đàn ông tên "Đ" (không rõ thông tin, lai lịch) vào ngày 16/10/2025 với số tiền 300.000 đồng tại khu vực hồ bơi B thuộc phường K, Thành phố Hồ Chí Minh, để sử dụng.

Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 16/10/2025, T đi từ nhà thuê tại ấp T, xã K, Thành phố H, đến nhà bà nội tại địa chỉ số A T, phường K, Thành phố H chơi. Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên T điện thoại cho một người tên "Đại" (không rõ thông tin, lai lịch) hỏi mua 300.000 đồng ma tuý đá và được người này đồng ý bán. Sau đó T đến trước khu vực hồ B thuộc phường K, Thành phố H gặp Đ, đưa 300.000 đồng và nhận 01 bịch nilon bên trong chưa ma tuý đá. Sau khi mua được ma tuý, T mang về nhà thuê tại ấp T, xã K, Thành phố H và cất trong hộp giấy, đặt dưới góc bàn gỗ trong phòng ngủ của T.

Đến khoảng 17 giờ 30 phút ngày 03/11/2025, T lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, bỏ một ít ma tuý vào nỏ thuỷ tinh và hút được khoảng hai hơi thì làm rơi vỡ nỏ. Sau đó, T cất số ma tuý còn lại vào hộp giấy và để bộ dụng cụ sử dụng ma tuý trên bàn trong phòng ngủ.

Đến khoảng 17 giờ 30 phút ngày 03/11/2025, T bị Cơ quan Công an phát hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý như đã nêu trên. Ngoài ra, T khai trước đó vào khoảng tháng 9 năm 2025 T đã mua ma tuý của Đ một lần với giá 300.000 đồng để sử dụng, nhưng không nhớ rõ ngày cụ thể.

Tại kết luận giám định số 9402/KL-KTHS ngày 08/11/2025 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: Mẫu A có khối lượng 0,8680 gam, là ma tuý, loại Methamphetamine.

Vật chứng vụ án:

- 01 hộp giấy màu đen hình chữ nhật, có hình hoa văn, có chữ ""CHÍ THIỆN PHARMA", kích thước 18cm x 23cm x 6,5cm;

- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, gồm: 01 bình nhựa mầu trắng nâu, dài 14cm, đường kính 4cm có gắn một nỏ thuỷ tinh dài 3cm bị vỡ một đầu

- 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số IMEI 1: 864591056306536, màu xanh đen, bên trong có gắn 01 thẻ sim điện thoại, số se-ri trên sim: 8984048000914679265 (may qua sử dụng, không kiểm tra hiện trạng bên trong máy)

Các vật chứng nêu trên được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H chuyển sang Phòng Thi hành án dân sự khu vực 14, Thành phố Hồ Chí Minh bảo quản, chờ xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 88/CT-VKS-KV14 ngày 09/03/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 truy tố bị cáo Trần Lý T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 giữ nguyên quyết định truy tố Trần Lý T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Lý T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Lý T đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời nhận tội của bị cáo Trần Lý T tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa đủ cơ sở kết luận: Ngày 03/11/2025, tại phòng ngủ của Trần Lý T thuộc ấp T, xã K, Thành phố H, Công an xã K, Thành phố H bắt quả tang Trần Lý T có hành vi tàng trữ trái phép 0,8680 gam là ma tuý, loại Methamphetamine để sử dụng. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về tính chất mức độ hành vi của bị cáo: Bị cáo Trần Lý T là người đã trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên biết rất rõ tác hại của ma túy đối với bản thân và xã hội nhưng do coi thường pháp luật và các chuẩn mực đạo đức xã hội nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần phải trừng trị nghiêm khắc đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội đồng thời đáp ứng được yêu cầu giáo dục, phòng ngừa chung.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Đối với đối tượng bán ma tuý cho bị cáo tên “Đại” và đối tượng giới thiệu địa điểm bán ma tuý cho bị cáo tên "Tý" do chưa xác định được họ tên và địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tiếp tục điều tra xử lý sau.

Vật chứng của vụ án: Đối với 01 hộp giấy màu đen hình chữ nhật, có hình hoa văn, có chữ ""CHÍ THIỆN PHARMA", kích thước 18cm x 23cm x 6,5cm và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, gồm: 01 bình nhựa mầu trắng nâu, dài 14cm, đường kính 4cm có gắn một nỏ thuỷ tinh dài 3cm bị vỡ một đầu là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số IMEI 1: 864591056306536, màu xanh đen, bên trong có gắn 01 thẻ sim điện thoại, số se-ri trên sim: 8984048000914679265 (máy qua sử dụng, không kiểm tra hiện trạng bên trong máy) là phương tiện được Trần Lý T sử dụng để liên lạc mua ma tuý, do đó cần áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu xung công quỹ Nhà nước;

Các vật chứng hiện Phòng Thi hành án dân sự khu vực 14, Thành phố H đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/3/2026.

Về án phí: Bị cáo Trần Lý T phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Lý T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Trần Lý T 3 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 28/11/2025.

Tiếp tục tạm giam Trần Lý T để bảo đảm thi hành án.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứu khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp giấy màu đen hình chữ nhật, có hình hoa văn, có chữ ""CHÍ THIỆN PHARMA", kích thước 18cm x 23cm x 6,5cm và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm: 01 bình nhựa mầu trắng nâu, dài 14cm, đường kính 4cm có gắn một nỏ thuỷ tinh dài 3cm bị vỡ một đầu.

Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số imei: 864591056306536, màu xanh đen, bên trong có gắn 01 thẻ sim điện thoại, số se-ri trên sim: 8984048000914679265 (máy qua sử dụng, không kiểm tra hiện trạng bên trong máy).

Các vật chứng hiện Phòng Thi hành án dân sự khu vực 14, Thành phố Hồ Chí Minh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/3/2026.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Trần Lý T phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30-3-2026). Bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND TP. Hồ Chí Minh;

- PV 06, PC 10 Công an TP. Hồ Chí Minh;

- VKSND KV14 - TP. Hồ Chí Minh;

- THADS TP. Hồ Chí Minh;

- Bị cáo, những người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ.

Trương Văn Tiến

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Văn Tiến

Cỡ chữ