vanban.org

Bản án 58/2026/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134, khoản 1 Điều 304, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lưu Thanh P phạm các tội “Cố ý gây thương tích” và “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” Xử phạt: Bị cáo Lưu Thanh P 2 (Hai) năm 6 (S1) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích và 1 (Một) năm 3 (Ba) tháng tù về tội Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Thanh P - chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (điều…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134, khoản 1 Điều 304, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 – HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2026/HSST
Ngày: 02/6/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Thúy;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Phương Thuận; Ông Nguyễn Mạnh Dũng.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Hà Chi - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng.

Thư ký tại điểm cầu thành phần: Bà Đào Thị T - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hạnh - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Hải Phòng - Tại điểm cầu trung tâm; Bà Đỗ Thị Xoa - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Hải Phòng - Tại điểm cầu thành phần.

Ngày 02/6/2026, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng và điểm cầu thành phần Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H, Toà án nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng xét xử trực tuyến công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 52/2026/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2026/QĐXXST-HS ngày 18/5/2026 đối với bị cáo:

Lưu Thanh P, sinh ngày 30/7/1990; CCCD số 030090005683;

Nơi ĐKTT: Tổ dân phố T, phường V, thành phố Hải Phòng;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lưu Văn N và bà Nguyễn Thị M; Gia đình có 2 anh em bị cáo là con thứ hai;

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Bản án số 190/2014/HSST ngày 10/12/2014, Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xử phạt 9 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản;

Bản án số 71/2017/HSST ngày 19/12/2017, Toà án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xử phạt 8 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản;

Bản án số 22/2019/HSST ngày 21/5/2019, Toà án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên xử phạt 2 năm 9 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/01/2026 đến ngày 29/01/2026 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H; Có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1986; Địa chỉ: Số I C, TDP B, phường V, TP Hải Phòng. Có mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Viết L, ông Nguyễn Văn S, anh Bùi Văn D, anh Lê Ngọc H, anh Phạm Duy K. Có mặt anh L, vắng mặt ông S, anh D, anh H, anh K.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lưu Thanh P có mối quan hệ bạn bè xã hội với anh Nguyễn Văn T1. Chiều ngày 18/7/2025, anh T1 hỏi vay P 400.000 đồng và hẹn sáng ngày 19/7/2025 sẽ trả thì P đồng ý. Sáng ngày 19/7/2025, P nhiều lần gọi điện thoại cho anh T1 để đòi tiền nhưng không thấy anh T1 nghe máy. Cho rằng anh T1 không giữ đúng hẹn, chiều cùng ngày P lấy 01 dao kim loại bọc trong bìa cát tông và túi vải màu xanh (do P đặt mua trên mạng xã hội từ trước) để vào lồng xe đạp (mượn của mẹ là bà Nguyễn Thị M) đi đến nhà trọ của anh T1 ở số I C, TDP B, phường V. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi P đến nhà trọ của anh T1 thì thấy anh T1 đang ngồi ở bậc thềm trước cửa nhà. P cầm dao bằng tay phải chạy về phía anh T1 vừa chửi vừa rút dao ra khỏi túi vải vung lên chém 01 nhát theo hướng từ trên xuống dưới về phía anh T1. Anh T1 giơ tay phải lên đỡ thì bị chém vào cổ tay làm cổ tay bị thương chảy máu. Sau đó, P và anh T1 ngồi nói chuyện, P đưa cho anh T1 thuốc lào đắp vào vết thương rồi P cầm dao đi về. Mấy ngày sau, P gửi dao cho anh Lê Ngọc H, sinh năm 1990, ở TDP F, phường V cầm hộ rồi bỏ trốn khỏi địa phương. Anh T1 bị thương được gia đình đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Q đến ngày 28/7/2025 thì ra viện. Ngày 10/11/2025, anh T1 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lưu Thanh P. Ngày 23/01/2026, Lưu Thanh P đến Cơ quan điều tra đầu thú.

Ngày 02/8/2026, Cơ quan điều tra quản lý 01 dao kim loại dài 50cm mũi nhọn lưỡi sắc, sống dao thẳng, thân lưỡi dao khắc chữ "Công ty T2 Thủ Công Truyền Thống OCOP", chuôi dao bằng gỗ dài 12cm và 01 túi vải màu xanh bên trong chứa hộp bìa catton do anh Lê Ngọc H giao nộp

Kết luận giám định số 902/2025/KLTTCT-TTPYHP ngày 25/12/2025 của Trung tâm P1, kết luận: Anh Nguyễn Văn T1 bị thương tích 15%, tổn thương có đặc điểm do vật sắc gây ra, anh T1 bị người khác dùng dao chém gây ra là phù hợp.

Kết luận giám định số 729/KL-KTHS ngày 14/02/2026 của Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận: Con dao gửi đến giám định là mã tấu thuộc phụ lục 3 “Danh mục vũ khí thô sơ”.

Kết luận giám định số 915/KL-KTHS ngày 07/3/2026 của Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận: Trên dao gửi giám định có máu người đã biến tính, không phân tích được đầy đủ kiểu gen, không có giá trị truy nguyên cá thể.

Tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKSKV12 ngày 06/5/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Hải Phòng truy tố Lưu Thanh P về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự và tội Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 304 BLHS.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng đ khoản 2 Điều 134, khoản 1 Điều 304, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự; Tuyên bố bị cáo Lưu Thanh P phạm tội Cố ý gây thương tích và tội Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng; Xử phạt: Bị cáo từ 2 năm 6 tháng – 2 năm 9 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích và 1 năm 3 tháng – 1 năm 6 tháng tù về tội Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành 3 năm 9 tháng – 4 năm tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về vật chứng: tịch thu cho tiêu hủy 01 dao kim loại, 01 túi vải màu xanh; Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại xác định về trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì khác. Về trách nhiệm hình sự của bị cáo đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi tố tụng, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, kết luận giám định tổn thương trên cơ thể của bị hại, kết luận giám định đối với vũ khí và các tang vật chứng, có đủ cơ sở kết luận: Do mâu thuẫn nhỏ nhặt trong việc vay mượn tiền, khoảng 13 giờ 30 phút ngày 19/7/2025, tại phòng trọ của anh Nguyễn Văn T1 ở số nhà I C, TDP số 02, phường V, thành phố Hải Phòng, Lưu Thanh P có hành vi sử dụng mã tấu (thuộc danh mục vũ khí thô sơ) chém 01 nhát vào cổ tay phải của anh Nguyễn Văn T1, làm anh T1 bị thương tích 15%.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến thân thể, sức khỏe của công dân, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về vũ khí gây mất trật tự tại địa phương. Bị cáo T1 có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt đã có hành vi dùng vũ khí thô sơ gây thương tích cho bị hại 15%, thể hiện tính côn đồ nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự và tội “ Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường cho bị hại, bố đẻ bị cáo là ông Lưu Thanh N1 được hưởng chế độ trợ cấp bệnh binh là người có công với cách mạng. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu nhiều lần bị xử lý hình sự về hành vi trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó là bài học để sửa đổi, tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục có hành vi phạm tội nên cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo. Xét tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo cần bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Do bị cáo phạm hai tội nên áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 304 Bộ luật Hình sự có quy định về hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên không phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng, bị hại không có yêu cầu bồi thường gì khác nên HĐXX không xem xét.

Về vật chứng: Đối với 01 dao kim loại là công cụ sử dụng vào việc phạm tội và 01 túi vải màu xanh là vật không có giá trị nên tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với anh Lê Ngọc H đồng ý cầm hộ Phong dao (mã tấu) để P không tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm sau đó đã giao nộp cho Cơ quan điều tra; anh Phạm Duy K dẫn P đến nhà anh T1 nhưng không biết mục đích P đến gây thương tích cho anh T1 nên không có căn cứ xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134, khoản 1 Điều 304, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lưu Thanh P phạm các tội “Cố ý gây thương tích” và “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”

Xử phạt: Bị cáo Lưu Thanh P 2 (Hai) năm 6 (S1) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích và 1 (Một) năm 3 (Ba) tháng tù về tội Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành 3 (Ba) năm 9 (Chín) tháng tù, thời gian tính từ ngày tạm giữ 23/01/2026.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu cho tiêu hủy: 01 dao kim loại, 01 túi vải mầu xanh (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố H và Phòng thi hành án dân sự khu vực 12 - Hải Phòng ngày 26/5/2026).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ