vanban.org

Bản án 58/2026/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/01/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/01/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-P7 ngày 26/9/2025; huỷ toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2025/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 13 Thành phố Hồ Chí Minh.

Chuyển giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra lại. Tiếp tục tạm giam bị cáo Ngô Văn Long cho đến khi Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý lại vụ án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "làm giả giấy tờ tài liệu của cơ quan, nhà nước - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-P7 ngày 26/9/2025; huỷ toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2025/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 13 Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Căn cứ chính? Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2026/HS-PT
Ngày 22-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu

Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Bắc

Ông Hoàng Trí Thức

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nhung – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 550/2025/HSPT ngày 08/10/2025 đối với bị cáo Ngô Văn Long cùng 04 đồng phạm khác, do có kháng cáo của bị cáo Ngô Văn Long và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2025/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo, kháng nghị:

1. Ngô Văn Long; sinh năm 1957 tại tỉnh Khánh Hòa; nơi đăng ký thường trú: 26B/27, khu phố 6, phường Hố Nai, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai ( nay là phường Hố Nai, tỉnh Đồng Nai); nơi ở: tổ 32 khu phố 4B, phường Trảng Dài, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (nay là phường Trảng Dài, tỉnh Đồng Nai); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn Soạn (đã chết) và bà Nguyễn Thị Lụa (đã chết); vợ đầu là Huỳnh Thị Hằng (đã chết); vợ sau là Nguyễn Thị Thúy Ái, sinh năm 1973; bị cáo có 05 con, lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 2016.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Tại Bản án số 49/2012/HSST ngày 14/2/2012 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 30/8/2013.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/01/2025, chuyển tạm giam ngày 20/01/2025. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt tại phiên tòa).

2. Nguyễn Văn Khánh, sinh năm 1975 tại tỉnh Nam Định; nơi đăng ký thường trú: số 96/34, khu phố 5, phường Hố Nai, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai ( nay là khu phố 5, phường Hố Nai, tỉnh Đồng Nai); nghề nghiệp: dạy lái xe; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Chánh, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị Đào, sinh năm 1952; vợ đầu là Nguyễn Thị Tươi, sinh năm 1977 (đã ly hôn); vợ sau là Nguyễn Thị Duyên, sinh năm 1987; bị cáo có 04 con, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/01/2025, chuyển tạm giam ngày 20/01/2025. Bị cáo hiện tại ngoại theo Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2025/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt tại phiên tòa).

3. Lê Thị Hạnh, sinh năm 1980 tại tỉnh Nam Định; nơi đăng ký thường trú: khu phố Hải Bình, thị trấn Long Hải, huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là xã Long Hải, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông ông Lê Văn Kim, sinh năm 1952 và bà Trần Thị Hương, sinh năm 1951; chồng là Nguyễn Văn Bình, sinh năm 1977; bị cáo có 05 con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2014.

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 29/4/2025. Bị cáo hiện tại ngoại theo Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2025/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt tại phiên tòa).

4. Nguyễn Danh Phương, sinh năm 1976 tại tỉnh Hải Dương; nơi đăng ký thường trú: ấp Phước Thắng, xã Phước Tỉnh, huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu (nay là xã Long Hải, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Danh Cúc, sinh năm 1954 và bà Phạm Thị Nụ (đã chết); vợ là Ma Thị Thắm, sinh năm 1979; bị cáo có 01 con sinh năm 2022. Bị cáo là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam sinh hoạt tại chi bộ ấp Phước Thắng, thuộc Đảng ủy xã Long Hải, thành phố Hồ Chí Minh .

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 29/4/2025. Bị cáo hiện tại ngoại theo Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2025/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt tại phiên tòa).

5. Nguyễn Thanh Linh, sinh năm 1987 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi đăng ký thường trú: khu phố Mỹ Hoà, thị trấn Phước Hải, huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu (nay xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Kế toán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc Đức (đã chết) và bà Phạm Thị Tư, sinh năm 1947; chồng là Hoàng Xuân Đảm, sinh năm 1985; bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 2022, nhỏ nhất sinh năm 2024.

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang cư trú tại ấp Mỹ Hoà, xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Khánh: Luật sư Nguyễn Thái Hoàng, Văn phòng Luật sư Hoàng Trung Chính, thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ: 301 đường 27 tháng 4, phường Bà Rịa, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Văn Bai, sinh năm 1981. Địa chỉ: Ấp Lò Vôi, xã Long Hải, huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ( nay là xã Long Hải, Thành phố Hồ Chí Minh). (vắng mặt).

- Bà Nguyễn Thị Thúy Ái, sinh năm 1983. Địa chỉ: Khu phố 4B, phường Trảng Dài, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (nay là phường Trảng Dài, tỉnh Đồng Nai). (vắng mặt)

- Ông Ngô Kỳ Long, sinh năm 2005. Địa chỉ: Khu phố 4B, phường Trảng Dài, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (nay là phường Trảng Dài, tỉnh Đồng Nai). (vắng mặt).

Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Văn Thu, sinh năm 1976. Địa chỉ: Ấp Phước Thọ, xã Long Hải, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

- Ông Nguyễn Văn Khanh, sinh năm 1989. Địa chỉ: Ấp Phước Thọ, xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

- Ông Nguyễn Minh Trí, sinh năm 2002. Địa chỉ: Ấp Mỹ Hòa, xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

- Bà Nguyễn Thị Bình, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp Mỹ Hòa, xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

- Ông Nguyễn Tấn Thanh, sinh năm 1975. Địa chỉ; Ấp Lộc An, xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

- Ông Đinh Quang Thế, sinh năm 1985. Địa chỉ: Tổ 18, khu phố 4C, phường Trảng Dài, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (nay là phường Trảng Dài, tỉnh Đồng Nai). (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2023, Nguyễn Văn Khánh quen biết Ngô Văn Long từng có tiền án về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” (chấp hành án xong năm 2013) nên đã bàn bạc thống nhất với Long về việc làm giả chứng chỉ, bằng cấp bán cho người khác lấy tiền tiêu xài. Sau đó, Khánh dùng tài khoản zalo tên “Nguyễn Khánh 0982535839” đăng thông tin nhận đào tạo các hạng lái xe, nâng dấu bằng lái xe ô tô các hạng và nhận làm các chứng chỉ, bằng cấp khác theo yêu cầu nhằm tìm những người có nhu cầu đặt mua làm giả các chứng chỉ, bằng cấp để lấy thông tin nội dung, hình ảnh rồi gửi cho Long làm giả giấy tờ theo yêu cầu và bán lại cho người đặt mua.

Khoảng tháng 01/2024, do biết được nhiều ngư dân làm việc ở khu vực các cảng cá có nhu cầu đặt mua các “Chứng chỉ thuyền trưởng tàu cá” và “Chứng chỉ máy trưởng tàu cá” để sử dụng điều khiển tàu cá đánh bắt hải sản trên biển nên Lê Thị Hạnh, Nguyễn Danh Phương (nguyên là cán bộ Đồn Biên phòng Bình Châu, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng) và Nguyễn Thanh Linh (nhân viên tại Cảng Hưng Thái ở xã Phước Hưng) nảy sinh ý định tìm kiếm những người có nhu cầu đặt mua và người nhận làm các chứng chỉ thuyền trưởng, máy trưởng giả để đặt mua rồi bán lại cho những người có nhu cầu nhằm hưởng tiền chênh lệch. Để thực hiện, Hạnh truy cập mạng xã hội Zalo biết được tài khoản “Nguyễn Khánh 0982535839” nhận đặt làm các chứng chỉ giả theo yêu cầu nên thông báo cho Phương rồi Phương thông báo cho Linh biết. Quá trình làm việc tại Cảng “Hưng Thái”, Linh liên hệ tìm những người có nhu cầu đặt mua “Chứng chỉ thuyền trưởng tàu cá, máy trưởng tàu cá” để yêu cầu họ cung cấp thông tin rồi chuyển các thông tin qua Zalo cho Phương, Phương chuyển thông tin qua Zalo cho Hạnh. Sau đó, Hạnh liên hệ với Khánh qua tài khoản Zalo tên “Nguyễn Khánh 0982535839” gửi thông tin đặt mua chứng chỉ giả theo yêu cầu. Sau khi nhận thông tin từ Hạnh, Khánh truy cập mạng xã hội tìm kiếm các thông tin hình ảnh về mẫu, chữ ký, con dấu của các chứng chỉ thuyền trưởng tàu cá hạng 2, máy trưởng tàu cá hạng 4 rồi gửi qua tài khoản Zalo “Lê Hạnh” để Hạnh xác nhận mẫu chứng chỉ cần đặt mua. Khi Hạnh đã xác nhận, Khánh gửi các mẫu chứng chỉ Hạnh đặt mua qua tài khoản Zalo của Long tên “Henry” để Long làm giả các chứng chỉ theo yêu cầu.

Cách thức Long làm các chứng chỉ giả: Long rửa hình của người cần làm chứng chỉ loại 3x4cm, lựa loại phôi phù hợp. Dùng máy vi tính đánh thông tin người đặt làm giả vào mẫu chứng chỉ, rồi dùng máy in phun màu để in chứng chỉ. Tiếp theo, Long dán ảnh, dán tem chống giả lên chứng chỉ giả vừa tạo rồi ép nhựa hoàn thiện chứng chỉ. Trong các chứng chỉ Long làm giả, có chứng chỉ có chữ ký và con dấu của cơ quan có thẩm quyền được tạo ra bằng phương pháp in phun màu, có chứng chỉ Long tự ký giả trực tiếp lên chứng chỉ bằng cách lấy mẫu chữ ký phô tô để ở dưới rồi lấy hộp bằng gỗ có miếng kính để đèn Pin ở trong rọi đèn lên, để tấm phôi cần ký giả lên trên và tô đồ lại theo chữ ký mẫu. Sau khi có chữ ký giả, Long đưa vào máy in để in phun màu con dấu của cơ quan có thẩm quyền. Mỗi chứng chỉ thuyền trưởng, máy trưởng tàu cá hạng 4 và hạng 2 giả, Long được Khánh đưa tương ứng số tiền 350.000 đồng và 500.000 đồng, nếu hình bị hư sẽ chuyển thêm 50.000 đồng. Sau khi làm xong chứng chỉ giả, Long đưa cho Khánh để bán cho Hạnh, Hạnh chuyển cho Phương, Phương chuyển cho Linh, Linh giao cho người mua.

Từ ngày 07/5/2024 đến ngày 21/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã điều tra làm rõ được Ngô Văn Long và Nguyễn Văn Khánh có hành vi làm giả 04 chứng chỉ, gồm: 02 Chứng chỉ thuyền trưởng hạng 2; 01 chứng chỉ máy trưởng hạng 2; 01 chứng chỉ máy trưởng hạng 4 rồi bán cho Lê Thị Hạnh, Nguyễn Danh Phương và Nguyễn Thanh Linh cụ thể như sau:

Vào các ngày 07/5/2024 và 09/5/2024, ông Nguyễn Văn Thuyết (đã chết vào ngày 13/6/2024) liên hệ nhờ ông Nguyễn Văn Bai tìm người đặt làm giả 02 chứng chỉ thuyền trưởng tàu cá hạng 2 và 01 chứng chỉ máy trưởng tàu cá hạng 2 với thông tin tên 03 người con, cháu đang làm thuyền viên của ông Thuyết là Nguyễn Văn Thu (sinh năm: 1976), Nguyễn Văn Khanh (sinh năm: 1989) và Nguyễn Minh Trí (sinh năm: 2002), ông Bai đồng ý. Để giúp ông Thuyết, ông Bai đã liên hệ với Linh nhờ đặt mua 03 chứng chỉ giả theo yêu cầu của ông Thuyết, Linh đồng ý nhận giá đặt làm 03 chứng chỉ hạng 2 với tổng số tiền 19.500.000 đồng. Ông Thuyết đưa thông tin căn cước công dân của Thu, Văn Khanh và Trí cùng số tiền 19.500.000 đồng cho ông Bai chuyển qua cho Linh. Sau khi nhận tiền, Linh chuyển thông tin và số tiền 18.000.000 đồng cho Phương (Linh giữ lại tiền chênh lệch 1.500.000 đồng), Phương chuyển thông tin và số tiền 10.500.000 đồng cho Hạnh (Phương giữ lại tiền chênh lệch 7.500.000 đồng), Hạnh tiếp tục chuyển thông tin và số tiền 8.100.000 đồng cho Khánh (Hạnh giữ lại tiền chênh lệch 2.400.000 đồng). Sau đó, Khánh chuyển thông tin và chuyển khoản số tiền 1.500.000 đồng cho Long qua số tài khoản do Long cung cấp là 003123123123 tại Ngân hàng Quân đội mang tên Đinh Quang Thể (sinh năm: 1985 - là người làm dịch vụ thu hộ tiền điện, nước, internet), Khánh giữ lại số tiền chênh lệch 6.600.000 đồng. Sau khi làm xong 03 chứng chỉ giả, Long đưa cho Khánh để giao cho Hạnh thông qua xe khách, rồi Hạnh đưa cho Phương giao cho Linh để đưa cho ông Bai, ông Bai giao lại cho ông Thuyết đem về cất trong tủ, chưa sử dụng và không nói cho ông Thu, ông Văn Khanh, ông Trí biết.

Ngày 17/5/2024, Linh nhận được thông tin qua ứng dụng zalo của đối tượng tên “Tí Cua” (chưa rõ nhân thân, lai lịch) có số điện thoại 0922513757 đặt mua chứng chỉ máy trưởng tàu cá hạng 4 cho người có thông tin “Đặng Ngọc Khanh, sinh ngày: 1982, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Lộc An, Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” trong thời gian 02 ngày. Đối tượng gặp đưa cho Linh số tiền 4.800.000 đồng. Sau khi nhận tiền, Linh chuyển thông tin và chuyển khoản số tiền 4.150.000 đồng cho Phương (Linh giữ lại tiền chênh lệch 650.000 đồng), Phương chuyển thông tin và chuyển khoản số tiền 3.600.000 đồng cho Hạnh (Phương giữ lại tiền chênh lệch 550.000 đồng), Hạnh tiếp tục chuyển thông tin và chuyển khoản số tiền 2.600.000 đồng cho Khánh (Hạnh giữ lại tiền chênh lệch 1.000.000 đồng). Sau khi nhận tiền và thông tin đặt mua từ Hạnh, Khánh chuyển thông tin và chuyển khoản số tiền 350.000 đồng cho Long thông qua tài khoản của ông Đinh Quang Thể (Khánh giữ lại số tiền chênh lệch 2.250.000 đồng). Ngày 19/5/2024, Linh nhận được 01 chứng chỉ giả mang tên “Đặng Ngọc Khanh” rồi để vào trong phong bì dán lại và nhờ bà Nguyễn Thị Bình (sinh năm: 1982 – là chị gái của Linh) đi giao giúp cho người đã đặt mua và không nói cho bà Bình biết bên trong phong bì là chứng chỉ giả. Vào khoảng 15 giờ 15 phút ngày 21/5/2024, khi bà Bình đi đến tuyến đường DT44B đoạn thuộc ấp Hội Mỹ, xã Phước Hội, huyện Long Đất (nay là ấp Hội Mỹ, xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh) để giao phong bì trên cho đối tượng “Tí Cua” thì bị lực lượng Công an kiểm tra, thu giữ.

Số tiền thu lợi bất chính đối với 04 chứng chỉ giả nêu trên: Long thu lợi số tiền 1.850.000 đồng; Khánh thu lợi 8.850.000 đồng; Hạnh thu lợi 3.400.000 đồng; Phương thu lợi 8.050.000 đồng và Linh thu lợi 2.150.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Ngô Văn Long, Nguyễn Văn Khánh, Lê Thị Hạnh, Nguyễn Thanh Linh và Nguyễn Danh Phương đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên

Ngoài ra, qua trích xuất dữ liệu điện thoại thu giữ của các bị cáo còn thể hiện từ tháng 01/2024 đến ngày 06/5/2024, Ngô Văn Long và Nguyễn Văn Khánh đã làm giả, bán cho Lê Thị Hạnh, Nguyễn Thanh Linh và Nguyễn Danh Phương thêm 24 chứng chỉ thuyền trưởng, máy trưởng giả hạng 2 và hạng 4 mang thông tin những người có tên sau: Huỳnh Văn Trung, Nguyễn Trọng, Trần Văn Phol, Nguyễn Văn Long, Tiêu Viết Thành, Lâm Văn Hiền, Trần Minh Trung, Trần Minh Thành, Nguyễn Ngọc Phú, Trần Viết Hết, Tiêu Viết Vân, Nguyễn Văn Hòa, Trần Văn Nghĩa, Nguyễn Kim Chung, Phạm Văn Dũng, Nguyễn Tấn Cường, Nguyễn Quốc Việt, Đặng Hữu Đức, Ngô Thành Hiệp, Trần Văn Nam, Phạm Hồng Sơn, Đỗ Văn Sơn, Nguyễn Văn Hảo và Nguyễn Tấn Thanh với số tiền chênh lệch mỗi người được hưởng lợi cụ thể như sau:

Mỗi chứng chỉ thuyền trưởng, máy trưởng tàu cá hạng 4 giả: Linh thu của người đặt mua số tiền 4.300.000 đồng, lấy tiền chênh lệch 500.000 đồng; Phương lấy tiền chênh lệch 300.000 đồng; Hạnh lấy tiền chênh lệch 1.000.000 đồng; Khánh lấy được số tiền 2.150.000 đồng; Long được số tiền 350.000 đồng.

Mỗi chứng chỉ thuyền trưởng, máy trưởng tàu cá hạng 2 giả: Linh thu của người đặt mua số tiền 6.500.000 đồng, lấy tiền chênh lệch 500.000 đồng; Phương lấy tiền chênh lệch 2.500.000 đồng; Hạnh lấy tiền chênh lệch 800.000 đồng; Khánh lấy được số tiền 2.200.000 đồng; Long được số tiền 500.000 đồng.

Tuy nhiên, quá trình điều tra không thu giữ được bản chính cũng như hình ảnh và các tài liệu liên quan đến 24 chứng chỉ giả có tên những người nêu trên. Mặt khác, những người này không có ở địa phương, nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được.

Ngoài hành vi nêu trên, Ngô Văn Long còn lên mạng xã hội đặt mua con dấu của Trường Trung học phổ thông chuyên Võ Nguyên Giáp tỉnh Quảng Bình và mộc tên mang tên “Nguyễn Thị Hải Yến” để làm giả “Học bạ trung học phổ thông” đề ngày 25/10/2023 cho người có thông tin: “Nguyễn Minh Đăng; sinh ngày 24/8/2008; Nơi cư trú: Nam Lý, Đồng Hới, Quảng Bình” và đặt mua con dấu của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam chi nhánh Đồng Nai, Phòng giao dịch Hưng Đạo Vương cùng với mục đích để làm giả các giấy tờ liên quan đến ngân hàng khi có người đặt.

* Căn cứ Kết luận giám định số: 130/KL-KTHS-TL ngày 25/9/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu (nay là Công an Thành phố Hồ Chí Minh) kết luận:

- Phôi “Chứng chỉ thuyền viên tàu cá”, mặt sau có thông tin “Chứng chỉ máy trưởng tàu cá hạng II” số hiệu 025904/CCTVTC, mang tên Nguyễn Minh Trí, đề ngày 10/01/2023 (ký hiệu A) gửi giám định là phôi giả.

- Chữ ký mang tên Nguyễn Trọng Lương trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký mang tên Nguyễn Trọng Lương trên mẫu so sánh ký hiệu từ M3 đến M6 không phải là chữ ký của cùng một người.

- Hình dấu Viện Khoa học và Công nghệ khai thác thủy sản trên mẫu cần giám định ký hiệu A không phải là do con dấu có hình dấu Viện Khoa học và Công nghệ khai thác thủy sản trên mẫu so sánh ký hiệu từ M3 đến M6 đóng ra. (bút lục từ số 219 đến 227)

* Căn cứ Kết luận giám định số: 156/KL-KTHS-TL ngày 29/11/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu kết luận:

- Phôi “Chứng chỉ máy trưởng tàu cá” số 22/MT4-QNg/18 mang tên Đặng Ngọc Khanh, đề ngày 12/3/2018 (ký hiệu A) gửi giám định so với phôi mẫu so sánh ký hiệu M1 không phải do cùng những bản in tương ứng in ra.

- Chữ ký mang tên Đào Hồng Đức trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký mang tên Đào Hồng Đức trên mẫu so sánh ký hiệu từ M5 đến M8 không phải do cùng một người ký ra.

- Hình dấu trên mẫu cần giám định ký hiệu A không phải là do con dấu có hình dấu trên mẫu so sánh ký hiệu từ M2 đến M8 đóng ra. Hình dấu trên mẫu cần giám định ký hiệu A được tạo ra bằng phương pháp in phun màu. (bút lục từ số 202 đến 218)

* Căn cứ Kết luận giám định số 191/KL-KTHS-TL ngày 14/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu kết luận:

+ 02 “Chứng chỉ thuyền viên tàu cá”, số hiệu: 025776/CCTVTC, ngày 10/01/2023, có chữ ký mang tên Nguyễn Trọng Lương; cấp cho Nguyễn Văn Thu (ký hiệu A1), cấp cho Nguyễn Văn Khanh (ký hiệu A2) gửi giám định có các lớp in trên mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2 so với các lớp in trên mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 không phải do cùng những bản in tương ứng in ra.

+ Chữ ký mang tên Nguyễn Trọng Lương trên mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2 so với chữ ký mang tên Nguyễn Trọng Lương trên mẫu so sánh ký hiệu M3, M4, M5, M6 không phải là chữ ký của cùng một người.

+ Hình dấu tròn trên mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2 không phải do con dấu có hình dấu mẫu trên mẫu so sánh ký hiệu M3, M4, M5, M6 đóng ra. (bút lục từ số 188 đến 201)

* Căn cứ Kết luận giám định số 19/KL-KTHS-TL ngày 20/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu kết luận:

+ Chữ ký mang tên Nguyễn Trọng Lương trên “Chứng chỉ máy trưởng tàu cá hạng II” số hiệu 025904/CCTVTC, mang tên Nguyễn Minh Trí, đề ngày 10/01/2023 (ký hiệu A1) so với chữ ký mang tên Nguyễn Trọng Lương trên mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 không phải là chữ ký của cùng một người. Chữ ký mang tên Nguyễn Trọng Lương trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 là chữ ký được tạo ra bằng phương pháp sao chụp (in phun màu).

+ Không đủ cơ sở kết luận chữ ký mang tên Đào Hồng Đức trên “Chứng chỉ máy trưởng tàu cá” số 22/MT4-QNg/18 mang tên Đặng Ngọc Khanh, đề ngày 12/3/2018 (ký hiệu A2) so với chữ ký mang tên Đào Hồng Đức trên mẫu so sánh ký hiệu từ M3 đến M5 có phải do cùng một người ký ra hay không. Chữ ký mang tên Đào Hồng Đức trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 là chữ ký trực tiếp. (bút lục từ số 179 đến 186)

* Căn cứ Kết luận giám định số 526/KL-KTHS ngày 13/3/2025 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

+ Chữ ký đứng tên Đào Hồng Đức trên “Chứng chỉ máy trưởng tàu cá”, hạng: tư, đứng tên: Đặng Ngọc Khanh (sinh năm 1982), cấp ngày 12/3/2018 (ký hiệu A1) là chữ ký được ký trực tiếp.

+ Chữ ký đứng tên Đào Hồng Đức trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 so với chữ ký do ông Ngô Văn Long ký thực nghiệm chữ ký ông Đào Hồng Đức trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M3, M4 là do cùng một người ký ra.

+ Chữ ký đứng tên Nguyễn Trọng Lương trên “Chứng chỉ máy trưởng tàu cá”, hạng II, đứng tên: Nguyễn Minh Trí (sinh năm 2002), cấp ngày 10/01/2023 (ký hiệu A2); “Chứng chỉ thuyền trưởng tàu cá”, hạng II, đứng tên: Nguyễn Văn Thu (sinh năm 1976), cấp ngày 10/01/2023 (ký hiệu A3) và “Chứng chỉ thuyền trưởng tàu cá”, hạng II, đứng tên: Nguyễn Văn Khanh (sinh năm 1989), cấp ngày 10/01/2023 (ký hiệu A4) là chữ ký được tạo ra bằng phương pháp in màu.

* Căn cứ Kết luận giám định số 525/KL-KTHS ngày 28/4/2025 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

+ Các thiệt bị điện tử gồm: 01 thùng máy vi tính màu đỏ đen, có ghi chữ “SD”; 01 thùng máy vi tính màu đỏ đen, có ghi chữ “MAGIC”; 01 điện thoại di động Nokia 105 màu xanh dương; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng trắng; 01 điện thoại di động iphone 12 promax màu xanh; 01 điện thoại di động Iphone Xs màu đen, gắn sim số 0377081865 và 01 điện thoại di động Iphone Xs màu gold, gắn sim số 0974456866 qua giám định không khôi phục được tin nhắn, nhật ký cuộc gọi, hình ảnh, video, không trích xuất được dữ liệu điện tử có liên quan đến hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức.

Căn cứ Kết luận giám định số 1947/KL-KTHS ngày 13/5/2025 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

+ 01 điện thoại di động Oppo màu đen, imei1: 865858061011057 (ký hiệu A1); 01 điện thoại di động Oppo, imei1: 865039068728718, imei 2: 865039068728700 (ký hiệu A2); 01 điện thoại di động Iphone 7 plus, imei: 356571083658781 (ký hiệu A3) qua giám định đã phục hồi, trích xuất dữ liệu là tin nhắn văn bản (SMS), tin nhắn gửi/nhận qua ứng dụng Zalo, Messenger từ ba điện thoại gửi giám định, dữ liệu có thời gian hiển thị từ ngày 01/5/2024 đến ngày 01/6/024.

+ Phục hồi, trích xuất dữ liệu trong hai thẻ nhớ micro SD Sandisk Ultra 32GB (ký hiệu A4, A5) gửi giám định.

Dữ liệu sau khi được khôi phục được sao lưu ra một thiết bị lưu trữ kèm theo kết luận giám định này và được lưu giữ tại hồ sơ

Căn cứ Kết luận giám định số 84/KL-KTHS-TL ngày 26/5/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu kết luận:

+ Chữ ký mang tên Nguyễn Thị Hải Yến trên “Học bạ trung học phổ thông” mang tên Nguyễn Minh Đăng, đề ngày 25/10/2023 (ký hiệu A1) so với chữ ký mang tên Nguyễn Thị Hải Yến trên mẫu so sánh ký hiệu M1 không phải do cùng một người ký ra.

+ Hình dấu Trường trung học phổ thông, chuyên Võ Nguyên Giáp trên mẫu cần giám định A1 và trên 06 “Mẫu con dấu trường trung học phổ thông chuyên Võ Nguyên Giáp” thu giữ của bị can Ngô Văn Long, đề ngày 07/5/2025 (ký hiệu A2) so với hình dấu Trường trung học phổ thông chuyên Võ Nguyên Giáp trên mẫu so sánh ký hiệu M2 không phải do cùng một con dấu đóng ra.

+ Hình dấu Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam chi nhánh Đồng Nai, Phòng Giao dịch Hưng Đạo Vương trên 06 “Mẫu con dấu Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam chi nhánh Đồng Nai Phòng giao dịch Hưng Đạo Vương” thu giữ được của bị cáo Ngô Văn Long, đề ngày 07/5/2025 (ký hiệu A3) so với hình dấu Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Đồng Nai, Phòng Giao dịch Hưng Đạo Vương trên mẫu so sánh ký hiệu M3 không phải do cùng một con dấu đóng ra

- Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus màu đen, gắn sim số 0337640120; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng đen; 01 điện thoại di động Samsung màu vàng; 01 điện thoại hiệu Iphone XR màu đen, gắn sim số 0392997652 đều thu giữ của Ngô Văn Long. Qua xác minh, 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus màu đen, gắn sim số 0337640120 và 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng đen là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị Thuý Ái (sinh năm: 1973; Hiện ở: Tổ 34, khu phố 4B, phường Trảng Dài, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai); 01 điện thoại di động Samsung màu vàng và 01 điện thoại hiệu Iphone XR màu đen, gắn sim số 0392997652 là tài sản hợp pháp của anh Ngô Kỳ Long (sinh năm: 2005 - con của bà Ái). Các điện thoại không liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật. Ngày 22/02/2025, Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại cho bà Ái và anh Kỳ Long.

Đối với 01 chứng chỉ máy trưởng hạng II mang tên Nguyễn Minh Trí, số hiệu 025904/CCTVTC; 01 chứng chỉ thuyền trưởng tàu cá hạng II mang tên Nguyễn Văn Thu, số hiệu 025776/CCTVTC, 01 chứng chỉ thuyền trưởng tàu cá hạng II mang tên Nguyễn Văn Khanh, số hiệu 025776/CCTVTC và 01 chứng chỉ máy trưởng tàu cá hạng tư mang tên Đặng Ngọc Khanh số 22/MT4-QNg/18 (qua giám định là giả) (qua giám định là giả) được lưu theo hồ sơ vụ án.

Đối với 01 USB sao lưu các dữ liệu điện tử được khôi phục từ giám định đây là chứng cứ điện tử nên lưu theo hồ sơ vụ án.

- Thu giữ của Nguyễn Thị Bình: 01 điện thoại di động Oppo màu đen (imei1: 865858061011057), gắn sim số 0901239252 (sêri sim: 8401221250063844) và sim số 0908425697 (sêri sim: 8401181150541461WD).

- Thu giữ của Nguyễn Thanh Linh: 01 điện thoại di động Oppo A58 màu xanh (imei1: 865039068728718, imei 2: 865039068728700), gắn sim số 0327994367; 01 điện thoại di động Nokia màu hồng (imei1: 355752100359717, imei2: 355752100859716), gắn sim số 0784551483.

- Thu giữ của Lê Thị Hạnh 01 điện thoại di động Iphone Xs màu đen (imei1: 356168091437868, imei 2: 356168091344932), gắn sim số 0377081865.

- Thu giữ của Nguyễn Danh Phương 01 điện thoại di động Iphone Xs màu gold (imei: 353137100096547), gắn sim số 0974456866 (sêri sim: 8984048000380708439).

- Thu giữ của Nguyễn Văn Bai 01 điện thoại di động Iphone 7 plus (imei: 356571083658781).

- Thu giữ của Nguyễn Văn Khánh:

+ 01 điện thoại di động iphone 12 promax màu xanh (imei1: 356716117476920, imei2: 356716117122508) gắn sim số 0982535839 (sêri sim: 8984048841007016892); 03 phong bì có chữ “Viettel post”, kích thước 23,5cm x 19cm; 03 phong bì có chữ “Viettel post”, kích thước 33cm x 22cm.

- Thu giữ của Ngô Văn Long: 01 điện thoại di động Nokia 105 màu xanh dương (imei1: 357332560486744, imei2: 357332560981744); 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu hồng trắng (imei1: 869602035373573, imei2: 869602035373565); 01 thùng máy vi tính màu đỏ đen, có ghi chữ “SD”; 01 thùng máy vi tính màu đỏ đen, có ghi chữ “MAGIC”; 01 màn hình máy tính nhãn hiệu lenovo màu đen; 01 máy ép nhựa dẻo màu xám đen, trên máy có ghi chữ “media; 01 máy in hiệu Epson L3210 màu đen; 01 máy in hiệu HP Laser Jet Pro M102a màu xám; 02 tờ giấy A4 bên trong có dấu tròn đỏ ghi chữ “Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Quảng Bình, trường Trung học phổ thông Võ Nguyên Giáp”, có đóng dấu mộc tên Nguyễn Thị Hải Yến; 01 học bạ Trung học phổ thông bên trong có dấu vuông đỏ ghi “SỞ GD&ĐT Đồng Nai phòng GDTr.H”; 01 học bạ Trung học phổ thông bên trong có dấu đỏ ghi “SỞ GD & ĐT Quảng Bình, Phòng giáo dục trung học” có ghi Họ và tên học sinh: Nguyễn Minh Đăng; 01 khung gỗ lụa màu xanh hình chữ nhật kích thước 20cm x15cm, bên trong tấm giấy màu xanh có hình dấu trong ghi chữ “ Ngân hàng TMCP Ngoại Thương, chi nhánh Đồng Nai, phòng giao dịch Hưng Đạo Vương”; 01 chai nhựa chứa chất lỏng không rõ chủng loại, trên chai có dán nhãn TAQUA PLUS; 01 chai nhựa chứa chất lỏng không rõ chủng loại, trên chai có dán nhãn VAQUA ORI; 01 cục bông gòn có dính chất màu đỏ; 01 dao rọc giấy có cán màu vàng đen, kích thước 10cm x 3,5cm; 01 cây thước bằng kim loại có chiều dài 30cm; 01 bàn phím nhãn hiệu Genius màu đen; 01 chuột máy tính nhãn hiệu Genius màu đen; 01 con dấu tròn có ghi chữ “ Ngân hàng TMCP Ngoại thương, chi nhánh Đồng Nai, phòng giao dịch Hưng Đạo Vương”; 01 dấu vuông có ghi chữ “BẢN SAO”; 01 con dấu có chữ “SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO TỈNH QUẢNG BÌNH, TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN VÕ NGUYÊN GIÁP”; 01 mảnh giấy có hình dấu tròn đỏ có chữ “NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH ĐỒNG NAI PHÒNG GIAO DỊCH TAM HIỆP”; 01 mảnh giấy có hình dấu tròn không ghi rõ chữ và có dấu tên Nguyễn Thị Thanh Vân; 01 mảnh giấy có hình dấu tròn đỏ ghi “UBND PHƯỜNG TRẢNG DÀI T.P BIÊN HOÀ T. ĐỒNG NAI”, có chữ ký và tên Nguyễn Thành Dân; 01 tờ giấy A4 bên trong có ghi chữ “Vietcombank THẺ TIẾT KIỆM CÓ KỲ HẠN” có đóng 03 dấu tròn đỏ của NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH ĐỒNG NAI PHÒNG GIAO DỊCH HƯNG ĐẠO VƯƠNG; 01 tờ giấy có hình dấu tròn đỏ của U.B.N.D phường Trung Dũng, TP. Biên Hoà, T. Đồng Nai, có chữ ký và tên Ngô Mộng Phương Loan; 13 tờ giấy bên trong có dán 458 tem tròn, trên tem có ghi chữ “BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆT NAM”; 01 tờ giấy bên trong có dán 27 tem tròn có ghi chữ “NHÀ XUẤT BẢN TƯ PHÁP”; 01 tờ giấy bên trong có dán 09 tem tròn có hoa văn hình ngôi sao chính giữa; 01 áo sơ mi tay dài màu xanh dương; 02 thẻ nhớ loại Sandisk 32GB thu giữ tại camera trước cửa và cổng nhà; 01 bàn cắt giấy màu nâu đen; 01 chuột máy tính hiệu Vision màu đen; 01 bàn phím máy tính hiệu Vision màu đen; 01 màn hình máy tính hiệu DELL màu đen; 01 tờ giấy màu hồng bên trong có in logo ghi chữ “TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG LAC HONG UNIVERSITY LHU”; 01 tờ giấy màu hồng bên trên có in logo chữ “TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG LAC HONG UNIVERSITY LHU”, có hình dấu tròn đỏ ghi chữ “BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG”, có chữ ký và tên ghi “T.S Lâm Thành Hiển”; 121 tờ giấy cứng bóng hai mặt loại A4; 19 tờ bìa cứng màu xám loại A4; 05 tờ giấy cứng màu hồng loại A4; 05 tờ giấy cứng màu vàng nhạt loại A4; 249 tờ giấy cứng màu trắng loại A4; 14 tờ giấy cứng một mặt bóng, một mặt nhám loại A4; 116 tờ giấy loại A4; 159 tờ giấy màu xanh lam loại A4; 203 tờ giấy màu hồng loại A4; 176 tờ giấy cứng màu hồng loại A4; 134 tờ giấy màu vàng loại A4; 206 tờ giấy màu xanh lục loại A4.

2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2025/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 13 Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Tuyên bố: Ngô Văn Long, Nguyễn Văn Khánh phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Bị cáo Nguyễn Thanh Linh, Nguyễn Danh Phương, Lê Thị Hạnh phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

1. Áp dụng điểm b, c khoản 2, khoản 4 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 ; Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Ngô Văn Long 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/01/2025.

Phạt bị cáo nộp 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) vào ngân sách nhà nước.

2. Áp dụng điểm b, c khoản 2, khoản 4 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Khánh 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án (ngày 29/8/2025).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Hố Nai, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Hố Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Phạt bị cáo nộp 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) vào ngân sách nhà nước.

3. Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 4 Điều 341; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Danh Phương 02 (hai) năm 05 (năm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm 10 (mười) tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 29/8/2025).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Long Hải, thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Long Hải giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Phạt bị cáo nộp 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) vào ngân sách nhà nước.

4. Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 4 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Lê Thị Hạnh 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án (ngày 29/8/2025).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Long Hải, thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Long Hải giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Phạt bị cáo nộp 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) vào ngân sách nhà nước.

4. Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 4 Điều 341; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Linh 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 29/8/2025).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Phước Hải, thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Phước Hải giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Phạt bị cáo nộp 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) vào ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

3. Kháng cáo, kháng nghị

Tại Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-P7 ngày 26/9/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, kháng nghị toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm nêu trên, nội dung: đề nghị huỷ Bản hình sự sơ thẩm số 32/2025/HSST ngày 29/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 13, Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra lại theo đúng quy định của pháp luật.

Ngày 06/9/2025 bị cáo Ngô Văn Long kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

4. Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình.

- Bị cáo Ngô Văn Long giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa giữ nguyên Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-P7 ngày 26/9/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và nêu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: kháng cáo của bị cáo Ngô Văn Long và kháng nghị Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền và trong hạn luật định.

Về tội danh: Các bị cáo Nguyễn Thanh Linh, Nguyễn Danh Phương, Lê Thị Hạnh biết rõ bị cáo Nguyễn Văn Khánh là người nhận làm giấy tờ giả nên đã hai lần nhận tiền và thông tin từ các đối tượng Nguyễn Văn Bai và Tí Cua để đặt làm giấy tờ giả cho người khác sử dụng. Các bị cáo Linh, Phương, Hạnh đã chuyển thông tin và tiền đến bị cáo Khánh; Khánh chuyển cho bị cáo Long để thực hiện làm giả 04 giấy tờ giả theo yêu cầu của ông Bai và Tí Cua. Hành vi của Linh, Phương, Hạnh đồng phạm với các bị cáo Long, Khánh về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Đối với đối tượng Nguyễn Văn Bai: nhận giúp ông Nguyễn Văn Thuyết đặt làm 03 giấy tờ giả cho người khác sử dụng là Nguyễn Văn Thu, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Minh Trí; cung cấp thông tin của 03 đối tượng nêu trên và đưa tiền cho bị cáo Linh để bị cáo Linh tiếp tục cung cấp thông tin và tiền cho những người khác để đặt làm giả 03 giấy tờ theo yêu cầu; hành vi của Nguyễn Văn Bai cấu thành tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Cấp sơ thẩm truy tố, xét xử các bị cáo Linh, Phương, Hạnh về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự là không đúng tội danh, không đúng tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo. Mặt khác trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử cấp sơ thẩm đã không xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn Bai là có dấu hiệu bỏ lọt người phạm tội.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 355; Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự, huỷ Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2025/HSST ngày 29/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 13 Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra lại theo đúng quy định của pháp luật.

Do đề nghị huỷ án sơ thẩm nên không xem xét kháng cáo của bị cáo Ngô Văn Long.

- Luật sư Nguyễn Thái Hoàng bào chữa cho bị cáo Khánh: Bản án sơ thẩm xét xử đã đúng người, đúng tội; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

5. Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, nói lời sau cùng các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Kháng cáo của bị cáo Ngô Văn Long và Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-P7 ngày 26/9/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền và trong hạn luật định. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, các chứng cứ đã được thẩm tra có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, thể hiện:

Nguyễn Văn Khánh và Ngô Văn Long đã thỏa thuận về việc Khánh sẽ đăng thông tin lên mạng xã hội để tìm những người có nhu cầu đặt làm giả các chứng chỉ, bằng cấp thì sẽ gửi thông tin, hình ảnh nội dung cần làm giả qua để Long làm giả rồi đem bán lại để kiếm lời.

Lê Thị Hạnh, Nguyễn Danh Phương, Nguyễn Thanh Linh do biết một số ngư dân có nhu cầu đặt mua các chứng chỉ thuyền trưởng, máy trưởng tàu cá để phục cho công việc điều khiển tàu đánh bắt hải sản trên biển nên Hạnh, Phương, Linh đã nảy sinh việc tìm kiếm các đối tượng nhận làm giả giấy tờ, tài liệu để được hưởng tiền chênh lệch. Biết được bị cáo Nguyễn Văn Khánh (qua mạng xã hội) nhận đặt làm các chứng chỉ giả nên bị cáo Hạnh là người trực tiếp liên hệ với bị cáo Nguyễn Văn Khánh để thống nhất việc đặt làm giấy tờ giả. Sau đó Hạnh thông báo cho Phương, Linh biết để cùng nhau thực hiện việc tìm kiếm thông tin của những người có nhu cầu sử dụng chứng chỉ giả để đặt làm theo yêu cầu. Các bị cáo đã hai lần thực hiện việc đặt làm 04 tài liệu giả, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: từ ngày 07/5/2024 đến ngày 09/5/2024, ông Nguyễn Văn Bai nhận lời giúp ông Nguyễn Văn Thuyết (đã chết) để đặt làm giả 02 chứng chỉ thuyền trưởng tàu cá hạng 2 và 01 chứng chỉ máy trưởng tàu cá hạng 2 với thông tin tên 03 người con, cháu đang làm thuyền viên của ông Thuyết là Nguyễn Văn Thu, Nguyễn Văn Khanh và Nguyễn Minh Trí. Ông Bai đã liên hệ với Nguyễn Thanh Linh và cung cấp thông tin (đưa 03 căn cước công dân của Thu, Khanh, Trí) để Linh đặt mua 03 chứng chỉ nêu trên cùng số tiền 19.500.000 đồng. Sau khi Linh nhận tiền và thông tin từ ông Bai, Linh chuyển thông tin và 18.000.000 đồng cho Nguyễn Danh Phương (Linh giữ lại 1.500.000 đồng); Phương chuyển thông tin và số tiền 10.500.000 đồng cho Lê Thị Hạnh (Phương giữ lại 7.500.000 đồng); Hạnh chuyển thông tin và số tiền 8.100.000 đồng cho Nguyễn Văn Khánh (Hạnh giữ lại 2.400.000 đồng); Khánh chuyển thông tin và số tiền 1.500.000 đồng cho Ngô Văn Long (Khánh giữ lại số tiền 6.600.000 đồng).

Lần thứ hai: ngày 17/5/2024 bị cáo Nguyễn Thanh Linh gặp đối tượng tên “Tí Cua”, người này đặt mua chứng chỉ máy trưởng tàu cá hạng 4 và cung cấp thông tin cho Linh: “Đặng Ngọc Khanh”, sinh năm 1982, trú tại Lộc An, Đất Đỏ với số tiền 4.800.000 đồng. Sau khi nhận tiền và thông tin thì Linh thực hiện việc chuyển thông tin cho các bị cáo tương tự như vụ việc nêu trên để thực hiện việc làm giả chứng chỉ máy trưởng tàu cá hạng 4 cho Đặng Ngọc Khanh.

Như vậy, Nguyễn Thanh Linh, Nguyễn Danh Phương, Lê Thị Hạnh biết rõ bị cáo Nguyễn Văn Khánh là người nhận làm giấy tờ giả nên đã 02 lần nhận tiền và thông tin từ các đối tượng Nguyễn Văn Bai và Tí Cua để đặt làm giấy tờ giả cho người khác sử dụng. Linh, Phương, Hạnh đã chuyển thông tin và tiền đến bị cáo Khánh; Khánh chuyển cho Long để thực hiện việc làm giả 04 giấy tờ giả theo yêu cầu của Bai và Tí Cua. Do đó, hành vi của các bị cáo Ngô Văn Long, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Thanh Linh, Nguyễn Danh Phương, Lê Thị Hạnh cấu thành tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Toà án cấp sơ thẩm xác định hành vi của các bị cáo Linh, Phương, Hạnh cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự là không đúng, từ việc xác định không đúng dẫn đến xét xử các bị cáo chỉ có 01 tình tiết định khung (điểm b), lẽ ra phải 02 tình tiết định khung (điểm b,c).

Đối với Nguyễn Văn Bai: ông Nguyễn Văn Thuyết (đã chết vào ngày 13/6/2024) nhờ Nguyễn Văn Bai đặt làm giả 02 chứng chỉ thuyền trưởng tàu cá hạng 2 và 01 chứng chỉ máy trưởng tàu cá hạng 2, Bai đồng ý. Bai đã liên hệ với Linh đặt mua 03 chứng chỉ giả theo yêu cầu của ông Thuyết; Linh đồng ý nhận giá đặt làm 03 chứng chỉ hạng 2 với tổng số tiền 19.500.000đồng. Ông Thuyết đã đưa số tiền 19.500.000 đồng cho Bai và Bai chuyển cho Linh. Như vậy hành vi của Bai có dấu hiệu đồng phạm của tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại Điều 341 Bộ luật Hình sự. Toà án cấp sơ thẩm xác định Bai không hưởng lợi tiền chênh lệch từ việc đặt mua các chứng chỉ giả, ông Thuyết thì đã chết nên không xem xét trách nhiệm hình sự là chưa phù hợp, có dấu hiệu bỏ lọt người phạm tội.

Về kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 355; Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự, huỷ Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2025/HSST ngày 29/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 13 Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra lại theo đúng quy định của pháp luật.

Như đã phân tích tại mục [2] Hội đồng xét xử xét thấy: kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ nên chấp nhận, huỷ toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2025/HSST ngày 29/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 13 Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra lại theo đúng quy định của pháp luật.

. Về kháng cáo của bị cáo Ngô Văn Long: do bản án sơ thẩm bị huỷ để điều tra xét xử lại nên không xem xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Long.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-P7 ngày 26/9/2025; huỷ toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2025/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 13 Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Chuyển giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra lại.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Ngô Văn Long cho đến khi Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý lại vụ án.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Ngô Văn Long không phải chịu.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (22/01/2026).

Cỡ chữ