vanban.org

Bản án 58/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Quan hệ hôn nhân: chị Ngô Thị H được ly hôn anh Tạ Danh Q

Về con chung: Giao con chung Tạ Ngọc Đan C, sinh ngày 08/2/2023 cho chị Ngô Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Tạ Danh Q. Anh Tạ Danh Q có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hòa - Quảng"
  • Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: chị Ngô Thị H được ly hôn anh Tạ Danh Q
  • Căn cứ chính? Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Luật tố tụng hành chính; Luật Tư pháp người
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 31/3/2026
Về việc: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Danh Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Dũng và ông Ngô Đình Tưu

Thư ký ghi biên bản phiên toà: bà Cao Thị Vân – Thẩm tra viên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Nghệ An tham gia phiên toà: ông Lê Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 3 – Nghệ An xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 216/2025/TLST – HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2026/QĐST-DS ngày 25/02/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2026/QĐ-DS ngày 13/3/2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị H, sinh năm 1988 – có mặt;

Nơi cư trú: xóm A, xã M, tỉnh Nghệ An

- Bị đơn: anh Tạ Danh Q, sinh năm 1988 – vắng mặt;

Nơi cư trú: xóm A, xã M, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện được bổ sung tại bản tự khai nguyên đơn chị Ngô Thị H trình bày: chị và anh Tạ Danh Q kết hôn với nhau vào ngày 13/3/2023, hôn nhân trên cơ sở tình yêu, hoàn toàn tự nguyện, có đăng kí kết hôn tại UBND xã D, huyện D (nay là xã M), tỉnh Nghệ An. Sau ngày kết hôn hai vợ chồng sống với nhau nhưng không hòa thuận, hạnh phúc mà thường xuyên phát sinh mâu thuẫn thậm chí còn có bạo lực do anh Q chơi bời, sa vào lô đề dẫn đến nợ nần, đời sống kinh tế khó khăn nên chị thường xuyên phải chịu cảnh bị đánh đập, đe dọa về tinh thần, đời sống chung căng thẳng và luôn lo sợ, hai vợ chồng đã sống ly thân nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Tạ Danh Q.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Tạ Ngọc Đan C, sinh ngày 08/2/2023. Ly hôn chị Ngô Thị H có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung cho đến khi trưởng thành, không yêu cầu anh Tạ Danh Q thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung: không yêu cầu Toà án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án nhân dân Khu vực 3 – Nghệ An đã tiến hành tống đạt cho anh Tạ Danh Q các văn bản tố tụng nhưng bị đơn vắng mặt tại các phiên hòa giải. Qua xác minh tại Công an xã M thì anh Tạ Danh Q có nơi đăng kí hộ khẩu thường trú tại xóm A (nay là xóm H), xã M, tỉnh Nghệ An, hiện đang có mặt và sinh sống tại địa phương. Do đó, tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với bị đơn theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Phát biểu ý kiến tại phiên tòa, Kiểm sát viên đánh giá trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán và hội đồng xét xử đã tiến hành đúng, đầy đủ theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; Tòa án mở phiên tòa đúng thời hạn chuẩn bị xét xử. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt ở các phiên hòa giải nên Tòa án đưa vụ án xét xử vắng mặt đối với bị đơn là đúng quy định tại điều 227, điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án đề nghị Toà án áp dụng các điều điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, giải quyết cho chị Ngô Thị H được ly hôn anh Tạ Danh Q; về con chung: giao con chung Tạ Ngọc Đan C, sinh ngày 08/2/2023 cho chị Ngô Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành; việc cấp dưỡng do đương sự không yêu cầu nên không xem xét; Về tài sản chung không yêu cầu giải quyết; án phí: chị Ngô Thị H phải chịu án phí theo quy định. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Bị đơn anh Tạ Danh Q có đăng ký hộ khẩu tại xóm A (nay là xóm H), xã M, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Nghệ An theo quy định tại điều 35, điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 2 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Sau khi thụ lý, Tòa án đã tiến hành các thủ tục niêm yết, xác minh tại nơi đăng kí hộ khẩu thường trú đối với anh Tạ Danh Q và tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Chị Ngô Thị H đã thông báo đến anh Tạ Danh Q toàn bộ nội dung khởi kiện nhưng anh Q vắng mặt tại các phiên hòa giải và phiên tòa. Do đó căn cứ vào các điều 70, điều 207, điều 227, điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để giải quyết và xét xử vắng mặt anh Tạ Danh Q.

. Xét về quan hệ hôn nhân thấy rằng: Hôn nhân giữa chị Ngô Thị H và anh Tạ Danh Q là hoàn toàn hợp pháp, việc đăng ký kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau một thời gian ngắn chung sống hạnh phúc giữa chị H và anh Q đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, tính cách, thiếu sự hòa hợp nên dẫn đến tình cảm phai nhạt. Quá trình làm việc tại Tòa án, chị H cũng xác định không còn tình cảm gì với anh Q nữa, hiện nay đã sống ly thân nhau, không có khả năng đoàn tụ với nhau nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q. Riêng anh Q, sau khi được thông báo toàn bộ nội dung khởi kiện của chị H về việc ly hôn, nuôi con chung vẫn vắng mặt tại các phiên hòa giải và không có ý kiến gì về việc Tòa án giải quyết ly hôn cũng như nuôi con chung. Điều đó chứng tỏ rằng mối quan hệ giữa chị H và anh Q đã thực sự rạn nứt, mục đích hôn nhân không đạt được, bởi vậy cần áp dụng khoản 1 điều 51, khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết cho chị Ngô Thị H được ly hôn với anh Tạ Danh Q.

. Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Tạ Ngọc Đan C, sinh ngày 08/2/2023 hiện nay đang ở với chị H. Xét chị H có địa chỉ cư trú rõ ràng, đủ các điều kiện cơ sở vật chất để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Căn cứ điều kiện nuôi con thực tế HĐXX nhận thấy cần áp dụng các điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình nên giao con chung cho chị Ngô Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành là phù hợp, chị Ngô Thị H không yêu cầu giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Tạ Danh Q.

. Về tài sản chung: không yêu cầu tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

. Án phí: Chị Ngô Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. 3

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, các điều 35, 39, 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

- Căn cứ khoản 1 điều 51, khoản 1 điều 56; điều 57, điều 58, điều 81, điều 82, điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử:

1. Quan hệ hôn nhân: chị Ngô Thị H được ly hôn anh Tạ Danh Q

2. Về con chung: Giao con chung Tạ Ngọc Đan C, sinh ngày 08/2/2023 cho chị Ngô Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Tạ Danh Q. Anh Tạ Danh Q có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại Khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Án phí: Chị Ngô Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, án phí của chị Ngô Thị H được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002736 ngày 14/11/2025.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Ngô Thị H có mặt được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. 4

Anh Tạ Danh Q vắng mặt được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ