vanban.org

Bản án 58/2026/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025; và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết

số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc 1: Chấp nhận yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con của chị Mạc Thị C. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Mạc Thị C - Vương văn M"
  • Tòa quyết gì? luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025; và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – THÁI NGUYÊN
----------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2026/HNGĐ-ST.
Ngày: 07/08/2026.
V/v: Tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Minh Lý Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Ngọc Phiến 2. Ông Bùi Xuân Mậu

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Thị Tuyến - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hồng Việt - Kiểm sát viên

Ngày 07 tháng 08 năm 2026, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 230/2026/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 06 năm 2026 về “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2026/QĐXXST-HNGĐ, ngày 13 tháng 07 năm 2026 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Mạc Thị C, sinh năm 1995;

Dân tộc: Tày; Trình độ văn hóa: 11/12; Nghề nghiệp: Công nhân

Nơi thường trú: Xóm A, xã Y, tỉnh Thái Nguyên.

Bị đơn: Anh Vương Văn M sinh năm 1984;

Dân tộc: Nùng; Trình độ văn hóa: 6/12; nghề nghiệp: Tự do

Nơi thường trú: Xóm C, xã P, tỉnh Thái Nguyên.

(chị C và anh M đều có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Mạc Thị C trình bày:

Năm 2021 theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 62/2021/QĐST-HNGĐ, ngày 21/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên trong quyết định đã giao con chung tên là Vương Hoài Á, sinh ngày 11/6/2013 cho anh Vương Văn M trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên, trong quá trình nuôi dưỡng từ năm 2021 đến 2023 anh M luôn cấm cản không cho chị gặp con, có hành vi tát, đánh, mắng, chửi khiến cháu Á suy sụp tinh thần và anh M đã mang cháu Á đi giấu đến nhà anh em họ hàng, để mục đích mẹ con không thể gặp nhau.

Quá trình học tập của cháu từ năm lớp từ năm 2022 đến nay do không được quan tâm sát sao khiến kết quả học tập dần kém đi, ba năm gần đây cháu chỉ đạt học sinh Trung bình. Nay cháu đã đến tuổi dậy thì cần sự quan tâm nhiều trực tiếp của mẹ. Gần đây, cháu đã có biểu hiện bỏ học nhiều khiến giáo viên chủ nhiệm gọi điện cho phụ huynh nhắc nhở. Thời gian gần đây, anh Vương Văn M không may bị mắc bệnh tắc mạch máu não, đột quỵ phải đi cấp cứu, điều trị tại bệnh viện A Thái N, năm 2023 tới nay anh đã chuyển về nhà ngoại trú và điều trị tại Trung tâm y tế P. Do sức khỏe anh M đã suy yếu, mất khả năng lao động, kinh tế kém, sống chung với bố mẹ đã gần 70 tuổi, không có khả năng kinh tế và điều kiện chăm lo cho cháu Á. Bản thân chị là mẹ cháu, hiện đang làm việc tại công ty trách nhiệm hữu hạn S, có thu nhập ổn định, đảm bảo chăm sóc được đầy đủ cuộc sống học tập của cháu Á.

Nay chị yêu cầu: Đề nghị Tòa án xem xét cho chị được nuôi cháu Vương

Hoài Á; Không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.

Tại bản ghi lời khai, biên bản hoà giải và tại phiên tòa bị đơn anh Vương Văn M trình bày:

Anh và chị C là vợ chồng đã ly hôn từ năm 2021, anh chị có một con chung là Vương Hoài Á sinh ngày 11/6/2013. Khi giải quyết ly hôn anh và chị C đã thỏa thuận giao con chung là cháu Vương Hoài Á cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, chị C không phải cấp dưỡng nuôi con. Nay chị C yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, anh không nhất trí vì anh đã trực tiếp nuôi con từ khi cháu 03 tuổi đến nay, khi cháu được 03 tuổi chị C bỏ đi và không cấp dưỡng gì cho cháu, khoảng hai năm gần đây chị C mới cấp dưỡng nuôi con. Từ khi anh bị bệnh đến nay anh không đi làm gì được, việc đi lại khó khăn phải nhờ bố, mẹ anh giúp đỡ. Hàng tháng anh không có thu nhập gì, chỉ được hỗ trợ 750.000 đồng trên tháng. Hiện nay cháu đã lớn thì chị C lại yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con anh không nhất trí, anh có nguyện vọng tiếp tục nuôi cháu Á. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành. Vì vậy, vụ án được đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận: Chị C giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được được nuôi cháu Vương Hoài Á; không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con. Anh M không nhất trí.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đầy đủ, đúng trình tự tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự. Xác định đúng tư cách tham gia tố tụng, đúng quan hệ pháp luật. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tại phiên tòa theo quy định của pháp luật. Đối với đương sự: Nguyên đơn chị C và anh M đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 70,71 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2025; và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Chấp nhận yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con của chị Mạc Thị C.

- Giao con chung là Vương Hoài Á, sinh ngày 11/6/2013 cho chị Mạc Thị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Vương Hoài Á trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

Anh Vương Văn M có quyền và nghĩa vụ thăm nom con và không ai được cản trở. Chị Mạc Thị C và các thành viên gia đình không được cản trở anh M trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị C trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con, nên hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì lợi ích của con chung khi cần thiết các bên có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về án phí: Buộc nguyên đơn chị Mạc Thị C, phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến của Đại diện viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về “Tranh chấp nuôi con chung sau ly hôn” giữa nguyên đơn là chị Mạc Thị C và bị đơn anh Vương Văn M. Anh M có hộ khẩu thường trú tại xóm C, xã P, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2025, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên.

- Về sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án tiến hành biện pháp thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng quy định của pháp luật. [2]. Về nội dung:

2.1. Xét yêu cầu khởi kiện xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn của nguyên đơn thấy rằng: Chị Mạc Thị C và anh Vương Văn M kết hôn năm 2013, đến năm 2021 do mâu thuẫn vợ chồng, chị C có đơn xin ly hôn. Quá trình giải quyết tại Tòa án, anh M, chị C đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nhất trí thuận tình ly hôn, về con chung anh M, chị C thỏa thuận giao con chung là cháu Vương Hoài Á, sinh ngày 11/6/2013 cho anh M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Ngày 26/5/2026 chị Mạc Thị C có đơn xin thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Vương Văn M tại biên bản ghi lời khai cũng như tại biên bản hòa giải và tại phiên tòa trình bày, bản thân anh bị tai biến mạch máu não từ năm 2022, hiện nay không lao động được, đi lại khó khăn hiện nay phải nhờ bố mẹ anh giúp đỡ, hàng tháng được chính sách xã hội hỗ trợ 750.000đ, ngoài ra không có thu nhập gì khác.

Như vậy, hiện nay anh Vương Văn M đang bị bệnh, không đủ sức khỏe để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Vương Hoài Á, anh M hiện không có thu nhập ổn định nên không đảm bảo cho cháu Á được chăm sóc tốt nhất về vật chất cũng như tinh thần. Nguyện vọng của cháu Á cũng muốn ở với chị C, chị C hiện đang đi làm, có thu nhập, đủ điều kiện để đảm bảo được cuộc sống của con chung. Như vậy, để đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên, cần chấp nhận yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con chung của chị C. Giao con chung là cháu Vương Hoài Á, sinh ngày 11/6/2013 cho chị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với Điều 81,82,83,84 Luật hôn nhân và gia đình.

2.2. Xét yêu cầu của bị đơn (anh Vương Văn M) về việc anh cũng có nguện vọng tiếp tục nuôi con chung, thấy rằng: Như đã phân tích ở mục 2.1, do hiện nay anh M đang mắc bệnh, không có khả năng lao động, không có thu nhập và mặt khác cháu Vương Hoài Á là con gái, đang ở tuổi dậy thì, độ tuổi cần sự bảo ban chia sẻ của người mẹ, nên hiện nay việc giao cho chung cho anh M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là không phù hợp, không đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên phát triển toàn diện, do vậy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của anh Vương Văn M.

. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, lẽ ra bị đơn là anh Vương Văn M phải chịu án phí sơ thẩm. Tuy nhiên, tại phiên tòa nguyên đơn là chị Mạc Thị C tự nguyện nộp toàn bộ án phí sơ thẩm, xét thấy việc chị C nhận nộp toàn bộ án phí là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức, nên chấp nhận.

. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị C trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con, nên hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên tại phiên toà là phù hợp, cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ pháp luật:

- Căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Khoản 3 Điều 28, 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147 Bộ

luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025; và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết

số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc

hội;

2. Tuyên xử:

2.1: Chấp nhận yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con của chị Mạc Thị C.

2.2: Giao con chung là Vương Hoài Á, sinh ngày 11/6/2013 cho chị Mạc Thị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Vương Hoài Á trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

Anh Vương Văn M có quyền và nghĩa vụ thăm nom con và không ai được cản trở. Chị Mạc Thị C và các thành viên gia đình không được cản trở anh M trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

2.3: Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị C trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con, nên hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì lợi ích của con chung khi cần thiết các bên có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

2.4: Về án phí: Chị Mạc Thị C tự nguyện nhận nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0002496 ngày 08/06/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên (Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4). (Chị C đã nộp đủ án phí).

2.5: Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt chị Mạc Thị C và anh Vương Văn M, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ