vanban.org

Bản án 58/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lương Thế A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lương Thế A 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/5/2025. Các biện pháp tƣ pháp: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Thế A - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lương Thế A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2025/HS-ST
Ngày: 19-9-2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐẮK LẮK

- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Trang

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phan Đức Lý, ông Lê Văn Tập

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tinh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ tên: Lƣơng Thế A; giới tính: Nam; tên gọi khác: Ki; Sinh ngày 09 tháng 01 năm 2000, tại: Tỉnh Đắk Lắk. Nơi đăng ký thường trú: Thôn I, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Nay là thôn I, xã E, tỉnh Đắk Lắk). Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Không. Họ và tên cha: Lương Hiến Ả, sinh năm 1967 (đã chết); họ và tên mẹ: Lý Thị Â, sinh năm 1977 (đã chết). Bị cáo chưa có vợ, chưa có con. Tiền án: 02.

Ngày 15 tháng 6 năm 2021 bị Tòa án nhân dân huyện Ea H'leo, tỉnh ĐắkLắk (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Đắk Lắk) xử phạt 01 năm tù, về tội Trộm cắp tài sản, tại Bản án hình sự số 36/2021/HS-ST. Chấp hành án tại trại giam Đ – Bộ C. Ngày 14 tháng 4 năm 2022 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích.

Ngày 27 tháng 4 năm 2023 bị Tòa án nhân dân huyện Ea H'leo, tỉnh ĐắkLắk (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Đắk Lắk) xử phạt 01 năm 03 tháng tù, về tội Trộm cắp tài sản, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2023/HS-ST. Chấp hành án tại Trại giam Đ1 – Bộ C. Ngày 08 tháng 4 năm 2024, chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích;

Nhân thân:

Ngày 25 tháng 12 năm 2017 bị Tòa án nhân dân huyện Ea H'leo, tỉnh ĐắkLắk (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Đắk Lắk) xử phạt 09 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 131/2017/HSST. Chấp hành án tại trại tạm giam Đ2- Bộ C. Ngày 28/6/2018 chấp hành xong hình phạt (đã được xóa án tích).

Ngày 15 tháng 6 năm 2020 bị Tòa án nhân dân huyện Ea H'leo, tỉnh ĐắkLắk (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Đắk Lắk) xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tại bản án hình sự số 40/2017/HSST. Chấp hành án tại trại tạm giam Đ2 - Bộ C. Ngày 30/12/2020 chấp hành xong hình phạt (đã được xóa án tích).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/5/2025 cho tới nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị Lan A1 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số A N, phường B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lương Thế A là người đã có 02 tiền án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích và là người nghiện ma túy. Sáng ngày 16 tháng 5 năm 2025, Anh bắt xe từ huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk) đi đến địa bàn thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) để mua ma túy sử dụng. Sau đó, Thế A đi đến khu vực nghĩa địa cũ đường P, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk) hỏi mua 200.000 đồng ma túy loại Heroin của một người đàn ông (chưa rõ nhân thân, lai lịch) và sử dụng hết. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Thế A đi bộ một mình dọc theo đường Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) tìm người dân sơ hở trong quản lý tài sản để trộm cắp bán lấy tiền mua ma túy và tiêu xài cá nhân. Khoảng 17 giờ cùng ngày, Thế A đi đến trước tiệm cơm, địa chỉ tại số B đường Y, phường T, thành phố B (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) do chị Nguyễn Thị Lan A1, sinh năm 1985, trú tại số A đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) làm chủ, thì phát hiện thấy có 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone11 Promax, màu trắng, dung lượng 64Gb đang để ở trên bàn Inox, cạnh quầy thức ăn. Lúc này, Thế A đi vào trong quán, nhanh chóng lấy chiếc điện thoại trên, rồi bỏ chạy về hướng đường L, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường E, tỉnh Đắk Lắk). Phát hiện bị mất chiếc điện thoại, nên chị Lan A1 đã hô hoán, sau đó cùng người dân đuổi theo Thế A. Khi Thế A chạy đến trước địa chỉ số B đường Y phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) thì bị anh Nguyễn Hải M, sinh năm 1996, trú tại số E đường Y nối dài, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) và chị Lan A1 bắt giữ cùng tang vật, sau đó bàn giao cho Công an phường T để xử lý.

Tại Kết luận định giá tài sản số 84/KL-HĐĐGTS ngày 23 tháng 5 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, kết luận: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Apple Iphone11 Promax, màu trắng, dung lượng 64Gb, số seri G6TCW2YNN70D, tài sản đang hoạt động bình thường, tài sản đã qua sử dụng, tài sản thu hồi được, tại thời điểm ngày 16 tháng 5 năm 2025 trị giá 7.000.000 đồng.

Tại cáo trạng số 212/QĐ-VKS - HS ngày 29/8/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk, đã truy tố Lương Thế A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lương Thế A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk đã phân tích, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lương Thế A phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Lương Thế A mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Các biện pháp tƣ pháp: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử lý vật chứng: Chấp nhận cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone11 Promax, màu trắng, dung lượng 64Gb, số seri G6TCW2YNN70D, là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Nguyễn Thị Lan A1 nhận quản lý sử dụng.

Về dân sự:

Sau khi nhận lại tài sản, bà Nguyễn Thị Lan A1 không có yêu cầu bị cáo Lương Thế A bồi thường gì, nên không đề cập giải quyết.

Tại phiên tòa bị cáo Lương Thế A không bào chữa tranh luận gì, chỉ đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, của Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Xét thấy tại cơ quan điều tra bị hại đã có lời khai đầy đủ, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng tới quá trình giải quyết vụ án. Do đó căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự để tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.

Về nội dung:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Lương Thế A là người đã có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, tại bản án thứ hai năm 2023 đã bị áp dụng tình tiết tái phạm nhưng tiếp tục phạm tội, cụ thể: Vào khoảng 17 giờ ngày 16 tháng 5 năm 2025, tại số B đường Y, phường T, thành phố B (nay là số B đường Y, phường B, tỉnh Đắk Lắk), Lương Thế A đã trộm cắp 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Apple Iphone 11 Promax, màu trắng, dụng lượng 64gb, trị giá 7.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị Lan A1 thì bị phát hiện xử lý. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a)…

g) Tái phạm nguy hiểm”.

Xét tính chất mức độ hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, trật tự công cộng, mà còn gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức được hành vi xâm phạm tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác đều sẽ bị pháp luật trừng trị. Song do ý thức coi thường pháp luật bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra bị cáo đã có 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học mà còn tiếp tục phạm tội. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi mà các bị cáo gây ra.

Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Không.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo Lương Thế A đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bị cáo là người dân tộc thiểu số là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử lý vật chứng: Chấp nhận cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone11 Promax, màu trắng, dung lượng 64Gb, số seri G6TCW2YNN70D, là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Nguyễn Thị Lan A1 nhận quản lý sử dụng.

Về dân sự:

Sau khi nhận lại tài sản, bà Nguyễn Thị Lan A1 không có yêu cầu bị cáo Lương Thế A bồi thường gì, nên không đề cập giải quyết.

Các vấn đề khác:

Trong vụ án này, đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Lương Thế A, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan đến Công an phường B, tỉnh Đắk Lắk để xử phạt hành chính theo quy định tại Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của chính phủ là phù hợp.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Lương Thế A, do quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ chưa xác định được nhân thân lai lịch và làm việc được, nên tách ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo Lương Thế A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 173 Bộ luật hình sự,

Tuyên bố: Bị cáo Lương Thế A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lương Thế A 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/5/2025.

Các biện pháp tƣ pháp: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử lý vật chứng: Chấp nhận cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone11 Promax, màu trắng, dung lượng 64Gb, số seri G6TCW2YNN70D, là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Nguyễn Thị Lan A1 nhận quản lý sử dụng.

Về dân sự: Bà Nguyễn Thị Lan A1 không có yêu cầu bị cáo Lương Thế A bồi thường gì, nên không đề cập giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lương Thế A phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ