- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hải K - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động (điều 105…"
- Tòa quyết gì? Điểm a, b khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2025/HS-PT Ngày : 17 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tuấn
Các Thẩm phán: Ông Thái Văn Hà; Ông Nguyễn Văn Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Hằng là thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Kiều N - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm trực tiếp công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 42/2025/TLPT-HS ngày 20 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo Trần Hải K do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2025/HSST ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
Bị cáo bị kháng cáo:
TRẦN HẢI K - sinh ngày 23/6/1993 tại thành phố Q, tỉnh Bình Định; Nơi thường trú: Tổ D, khu phố A, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Chỗ ở hiện nay: C T, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Ngọc L và bà: Phạm Thị H; Vợ: đã ly hôn, có 01 người con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/01/2025; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Nhân thân: Ngày 18/10/2018 bị Công an T xử phạt số tiền 2.000.000 đồng về hành vi gây thương tích cho người khác; Ngày 27/12/2021 bị Công an phường N, TP . xử phạt 350.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”.
Người tham gia tố tụng khác có kháng cáo:
Bị hại: Ông Phạm Văn X, sinh năm 1945; Địa chỉ: A H, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
- Người làm chứng:
1. Bà Phạm Thị H; Địa chỉ: A H, Tp ., Bình Định (có mặt)
2. Bà Nguyễn Thị H1 (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
3. Bà Phạm Thị Quý L1 (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 ngày 15/3/2024, Trần Hải K về nhà mẹ ruột tại địa chỉ A H, P. N, TP .. Nghe bà Phạm Thị H kể lại việc bị ông Phạm Văn X (sinh năm 1945, trú: số A H, P. N, TP .) đánh vào 04 ngày trước do mâu thuẫn trong việc lát vỉa hè nên K bực tức, muốn bà H cùng sang nhà ông X. Bà H không đồng ý và có can ngăn nhưng K vẫn một mình đến nhà ông X. K tới nhà ông X, thì thấy ông X và vợ là bà Nguyễn Thị H1 đang ngồi ở phòng khách. Khoa tới chỗ ông X hỏi: “Sao ông đánh mẹ tôi?”, ông X nói: “Mày vào nhà tao làm gì?” thì bị K dùng tay trái nắm tóc. Bị nắm tóc đau, ông X giơ hai tay lên ôm đầu. K tiếp tục dùng tay kéo đầu ông X đập vào tủ gỗ để giày dép gần đó nhiều lần khiến vùng đầu bên trái và bàn tay trái của ông X đập vào cạnh tủ bị thương. Sau đó, K dùng chân đá vào chân trái ông X nhiều cái làm ông X ngã xuống sàn nhà rồi tiếp tục dùng chân đạp vào chân trái ông X khiến ông không đứng dậy được nữa. Tiếp đến, K định cầm 01 máy sấy giày ở trên tủ để đánh ông X nhưng bà H1 đến can ngăn nên K dừng lại và bỏ về. Gia đình ông X gọi điện cho Công an phường N, TP . để báo cáo vụ việc. Sau khi cán bộ Công an phường là anh Hà Văn Đ đến lập biên bản ghi nhận sự việc thì ông X được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế thành phố Q vào tối ngày 15/3/2024; đến ngày 22/3/2024 thì xuất viện. Ngày 05/4/2024, ông Phạm Văn X có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Ngày 20/5/2024, Trung tâm Pháp y tỉnh B có Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 97/24/KLTTCT-PYBD đối với ông Phạm Văn X kết luận:
- Chấn thương gây sưng, đau thái dương trái, glasgow 15 điểm, không tổn thương xương sọ trên Xquang sọ đã điều trị. Hiện thái dương trái không có dấu vết, điện não đồ biến đổi nhẹ. Tỷ lệ: 03% (Ba phần trăm).
- Chấn thương gây sưng đỏ, bầm, đau nhức đốt xa ngón IV bàn tay trái, vỡ đốt 3 ngón IV trên phim chụp Xquang đã điều trị. Hiện ngón IV bàn tay trái hết sưng, cứng liên đốt 2, 3. Tỷ lệ: 02% (Hai phần trăm).
- Chấn thương gây đau nhức gối trái, hạn chế đi lại, đau tê cẳng chân trái, dấu ngăn kéo (+), vỡ đầu trên xương mác trái, rách nhẹ đầu dưới dây chằng chéo trước và dây chằng bên mác, tràn dịch khớp gối lượng ít đã điều trị. Hiện:
+ Gối trái không sưng, không dấu vết.
+ Dấu ngăn kéo (+).
+ Hạn chế vận động gối trái.
+ Đi lại đau nhiều.
Tỷ lệ: 12% (Mười hai phần trăm).
Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 16%.
Về dân sự: Bị hại Phạm Văn X yêu cầu bị cáo Trần Hải K bồi thường số tiền 15.034.000 đồng. Bị cáo Trần Hải K chưa bồi thường thiệt hại cho bị hại Phạm Văn X.
Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2025/HSST ngày 11 ngày 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Hải K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Trần Hải K 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam 15/01/2025.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Hải K có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Phạm Văn X số tiền: 15.034.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
Ngày 24/02/2025, bị hại ông Phạm Văn X kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt; tăng bồi thường thiệt hại và tăng tiền bồi thường về tổn thất tinh thần.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo. Chấp nhận kháng cáo yêu cầu tăng bồi thường thiệt hại của bị hại. Sửa bản án hình sự sơ thẩm về phần bồi thường thiệt hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Xét kháng cáo của bị hại Phạm Văn X, Hội đồng xét xử thấy rằng: Xuất phát từ mâu thuẫn trước đó giữa bà Phạm Thị H là mẹ ruột của Trần Hải K với hàng xóm là ông Phạm Văn X (80 tuổi) nên ngày 15/3/2024 bị cáo Trần Hải K đến nhà ông X đã thực hiện hành vi dùng tay nắm tóc, kéo đầu ông X đập vào cạnh tủ gỗ để giày dép; dùng chân đá nhiều cái vào chân trái của ông X. Hậu quả, ông X bị thương tích 16%.
. Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến thân thể sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung. Bị cáo Trần Hải K phạm tội với tình tiết định khung “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp: “Đối với người già yếu…” và “Có tính chất côn đồ” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ: Thật thà khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo có công cách mạng, ba của bị cáo ông Trần Ngọc L được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hàng nhị và được hưởng chính sách thương binh được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Hải K 02 năm 06 tháng tù là phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội do bị cáo gây ra. Hơn nữa, bị cáo có nhân thân xấu đã bị xử phạt hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích” mặc dù đã được xóa án tích.
. Về trách nhiệm Dân sự:
Tại phiên tòa sơ thẩm bị hại Phạm Văn X yêu cầu bồi thường 15.034.000 đồng (gồm các khoản: Chi phí điều trị: 3.046.000 đồng; chi phí bồi dưỡng sức khỏe 1.600.000 đồng; tiền công người chăm sóc: 1.600.000 đồng; Chi phí điều trị thuốc sau khi xuất viện: 2.788.000 đồng; tiền bù đắp tổn thất về tinh thần: 6.000.000 đồng).
Tại phiên tòa phúc thẩm bị hại Phạm Văn X yêu cầu xem xét bồi thường các khoản: 1.800.000 đồng tiền chụp MRI và 57.000 đồng tiền khám bệnh và xem xét lại tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Tại hóa đơn bán hàng của phòng khám Đ1, thành phố Q ngày 20/02/2025: Chụp MRI khớp gối với số tiền 1.800.000 đồng là hợp lệ nên chấp nhận. Riêng bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh số tiền 57.000 đồng (tiền này đã được Bảo hiểm chi trả). Ngoài ra, đối với mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần tại Tòa án cấp sơ thẩm bị hại yêu cầu 6.000.000 đồng và bị cáo đồng ý. Đây là sự tự nguyện giữa các bên đương sự nên được ghi nhận. Tuy nhiên, bị hại ông Phạm Văn X cho rằng vết thương của ông còn đau nhứt, chưa ổn định, thương tích do bị cáo gây ra 16% nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm điều chỉnh phần bù đắp tổn thất về tinh thần cho phù hợp, cụ thể các khoản như sau:
- Chi phí điều trị: 3.046.000 đồng.
- Chi phí bồi dưỡng sức khỏe 1.600.000 đồng;
- Tiền công người chăm sóc: 1.600.000 đồng
- Chi phí điều trị thuốc sau khi xuất viện: 2.788.000 đồng
- Tiền chi phí chụp MRI: 1.800.000 đồng
- Tiền bù đắp tổn thất về tinh thần:(2.340.000 đồng x 5 tháng) = 11.700.000đ.
Tổng cộng: 22.534.000 đồng
Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo về yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo. Chấp nhận một phần kháng cáo về phần bồi thường thiệt hại. Sửa bản án sơ thẩm về phần bồi thường thiệt hại.
. Về án phí: Theo điểm a khoản 1 Điều 12; điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, kháng cáo đối với yêu cầu giải quyết về bồi thường thiệt hại thì được miễn;
. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điểm a, b khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 48 của Bộ luật hình sự 2015.
Điều 584; Điều 590 Bộ luật Dân sự.
Điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên xử:
1.1. Không chấp nhận kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 27/2025/HSST ngày 11/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định về phần hình phat.
1.2. Chấp nhận một phần kháng cáo đối với yêu cầu tăng tiền bồi thường tổn thất về tinh thần của bị hại Phạm Văn X. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 27/2025/HSST ngày 11/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định về phần bồi thường thiệt hại.
2. Xử phạt: Bị cáo Trần Hải K 02 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 15/01/2025.
3. Về trách nhiệm Dân sự:
Buộc bị cáo Trần Hải K phải có nghĩa vụ bồi thường do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại Phạm Văn X tổng số tiền: 22.534.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Về án phí:
- Bị cáo Trần Hải K không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.
- Bị cáo Trần Hải K phải chịu 1.126.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.
5. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT.1 TANDTC; - VKSND tỉnh Bình Định; - Trại tạm giam CA tỉnh Bình Định; - TA, VKS thành phố Quy Nhơn; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Bình Định; - Chi cục THADS thành phố Quy Nhơn; - Cơ quan HSNV Công an tỉnh Bình Định; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tuấn |