- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "VỤ ÁN HÔN NHÂN"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thái Thị P với bị đơn ông Vương Quang T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 58/2025/HNGĐ-ST Ngày: 21-4-2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bạch Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Nguyệt
2. Bà Lê Thị Thiện.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Bạch Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thanh Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án thụ lý số: 148/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Thái Thị P, sinh năm 1985; địa chỉ: Số A N, Tổ A, Khu I, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Vương Quang T, sinh năm 1983; địa chỉ: Số B, ấp A, xã A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng nguyên đơn bà Thái Thị P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Thái Thị P và ông Vương Quang T tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 49/2009; Quyển số I ngày 21/7/2009. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2016 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm sống; vợ chồng đã sống ly thân khoảng 3 tháng nay. Thời gian sống ly thân vợ chồng không còn quan tâm, thương yêu, chăm sóc nhau.
Nay, bà P xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Trước đây bà đã nộp đơn ra Tòa, nhưng rút đơn để vợ chồng đoàn tụ, nhưng không thành. Trường hợp Tòa án không cho bà ly hôn thì bà cũng không đoàn tụ với ông T. Do đó, bà tha thiết yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.
Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên Vương Quốc Đ, sinh ngày 20 tháng 11 năm 2009 và Vương Thái Bảo N, sinh ngày 07 tháng 10 năm 2012. Sau khi ly hôn bà P yêu cầu giao 02 con chung cho bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng: Theo đơn khởi kiện bà yêu cầu ông Vương Quang T phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng/01con, nhưng ông T không đồng ý nên bà thay đổi không yêu cầu ông T phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
- Bị đơn ông Vương Quang T trình bày: Thống nhất ý kiến trình bày của bà Thái Thị P về thời gian chung sống, điều kiện kết hôn. Riêng về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng chủ yếu do tiền bạc và mâu thuẫn giữa ông với bên nhà vợ; vợ chồng đã sống ly thân khoảng 3 tháng nay. Thời gian sống ly thân ông vẫn thường xuyên đến thăm vợ con. Do ông còn thương yêu vợ nên ông không đồng ý ly hôn.
Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên Vương Quốc Đ, sinh ngày 20 tháng 11 năm 2009 và Vương Thái Bảo N, sinh ngày 07 tháng 10 năm 2012. Sau khi ly hôn bà P yêu cầu giao 02 con chung cho bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thì ông đồng ý, nhưng ông không đồng ý thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con vì hiện nay ông còn phải nuôi mẹ của ông.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà P khởi kiện ông T yêu cầu ly hôn, ông T hiện đang sinh sống tại địa chỉ: Số B, ấp A, xã A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân thành phố Thuận An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Nguyên đơn bà Thái Thị P; bị đơn ông Vương Quang T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Thái Thị P và ông Vương Quang T tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 49/2009; Quyển số I ngày 21/7/2009 là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình tố tụng bà P xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, hay cãi vã, sống không hạnh phúc nên bà P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông T. Ông T xác định vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nhưng ông còn thương yêu vợ nên không đồng ý ly hôn với bà P.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa người vợ và người chồng chỉ tồn tại bền vững dựa trên tình cảm thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và khi có những bất đồng trong quan hệ vợ chồng thì người vợ và người chồng phải cùng nhau tích cực hàn gắn, xóa bỏ những mâu thuẫn, duy trì tình cảm tốt đẹp của vợ chồng. Nhưng quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông T không đạt được các yếu tố của một gia đình hạnh phúc. Do tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, Tòa án đã hòa giải để vợ chồng trở về đoàn tụ, nhưng bà P cương quyết không đồng ý đoàn tụ vì bà không còn tình cảm với ông T. Ông T thì cho rằng vợ chồng có mâu thuẫn, nhưng ông còn thương yêu vợ nên không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên, ý kiến của ông T không được bà P chấp nhận và xác định nếu Tòa án không cho ly hôn thì bà cũng không đoàn tụ với ông T; trước đây bà đã nộp đơn ly hôn với ông T, sau đó rút đơn để vợ chồng đoàn tụ, nhưng không thành. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà P về việc ly hôn với ông T.
Về con chung: Có 02 con chung tên tên Vương Quốc Đ, sinh ngày 20 tháng 11 năm 2009 và Vương Thái Bảo N, sinh ngày 07 tháng 10 năm 2012. Sau khi ly hôn bà P yêu cầu giao 02 con chung cho bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và được ông T đồng ý, phù hợp với nguyện vọng của 02 con muốn sống với mẹ. Do đó có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà P.
Về cấp dưỡng: Theo đơn khởi kiện bà P yêu cầu ông T phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng/01 con. Tuy nhiên, quá trình tố tụng ông T không đồng ý thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên bà P thay đổi không yêu cầu ông T phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Xét việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của bà P là không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Khoản 1 Điều 228; Khoản 1 Điều 244; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thái Thị P với bị đơn ông Vương Quang T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Thái Thị P được ly hôn ông Vương Quang T.
- Về con chung: Giao cháu Vương Quốc Đ, sinh ngày 20 tháng 11 năm 2009 và Vương Thái Bảo N, sinh ngày 07 tháng 10 năm 2012 cho bà Thái Thị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Vương Quang T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Bà Thái Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0000969 ngày 19 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
3. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
4. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi thời hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Chánh án (để báo cáo); - Các đương sự; - Lưu HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Bạch Tuyết |