- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị M - Nguyễn Văn A"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M đối với bị đơn ông Nguyễn Văn A về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 19 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2025/HNGĐ-ST Ngày: 31-12-2025 V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 19 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hòa.
Ông Nguyễn Minh Tâm;
Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Phúc Vĩnh, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Tuyết – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 19 – Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 111/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 187/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 177/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp D, xã Đ, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1981; địa chỉ thường trú: ấp B, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi tạm trú: ấp C, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 23 tháng 7 năm 2025 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:
Về hôn nhân: Tôi và ông A có tìm hiểu nhau, sau đó đi đến hôn nhân. Chúng tôi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Long An ngày 27/01/2014. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng không lâu sau thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do cuộc sống không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, tôi và ông A không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân, mục đích hôn nhân không đạt được, tôi xin được ly hôn với ông Nguyễn Văn A.
Về con chung: chúng tôi có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Thanh N, sinh ngày 24/01/2015 và Nguyễn Thanh T, sinh ngày 05/10/2024. Hiện con đang sống với tôi. Sau khi ly hôn, tôi có nguyện vọng tiếp tục muôi cháu N và cháu T, yêu cầu ông A cấp dưỡng mỗi tháng 3.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Văn A được Tòa án triệu tập để lấy lời khai và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông A vắng mặt không có lý do. Vì Vậy, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông A. Ngày 15 tháng 12 năm 2025, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông A tham gia phiên tòa nhưng ông A vắng mặt không lý do. Ngày 31 tháng 12 năm 2025, bị đơn ông Nguyễn Văn A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Quá trình chung sống bà M và ông A đã phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng. Toà án nhân dân khu vực 19 – Thành phố H nhận định:
Về tố tụng: yêu cầu khởi kiện của bà M về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, ông A có nơi cư trú tại ấp C, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia xét xử nhưng ông A vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xét xử vắng mặt ông A theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Bà M và ông A có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Long An ngày 27/1/2014. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng không lâu sau thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do cuộc sống không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân, mục đích hôn nhân không đạt được, bà M xin được ly hôn với ông Nguyễn Văn A. Qua xác minh tại chính quyền địa phương nơi nguyên đơn và bị đơn cư trú được cung cấp như sau: Trong quá trình chung sống, giữa bà M và ông A có mâu thuẫn hay không thì chính quyền không nắm được. Hiện tại, bà M và ông A không còn sống chung. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà M đối với ông A là có căn cứ để chấp nhận và phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà M và ông A có 02 con chung là Nguyễn Thị Thanh N, sinh ngày 24/01/2015 và Nguyễn Thanh T, sinh ngày 05/10/2024. Hiện con đang sống với bà M. Sau khi ly hôn, bà M có nguyện vọng tiếp tục muôi cháu N và cháu T, yêu cầu ông A cấp dưỡng mỗi tháng 3.000.000 đồng/tháng, nay bà M không còn yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, các con chung đang sống ổn định với bà M, các còn trình bày ý kiến có nguyện vọng muốn ở với Mẹ. Do đó, tiếp tục giao 02 con chung là tên Nguyễn Thị Thanh N, sinh ngày 24/1/2015 và Nguyễn Thanh T, sinh ngày 05/10/2024 cho bà M trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu thành niên là phù hợp với Điều 81 và Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: trong đơn khởi kiện đề ngày 23 tháng 7 năm 2025, bà M yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng/tháng, quá trình tố tụng bà M không yêu cầu nữa. Xét thấy, việc bà M không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi 02 con chung là tự nguyện và phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: bà M và ông A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con của bà M đối với ông A được Tòa án chấp nhận nên theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà M phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm với mức thu là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M đối với bị đơn ông Nguyễn Văn A về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Văn A.
- Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Thị Thanh N, sinh ngày 24/01/2015 và Nguyễn Thanh T, sinh ngày 05/10/2024 cho bà M trực tiếp trôm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà M không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con.
Ông Nguyễn Văn A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.
Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Về chia tài sản chung, nợ chung: bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Văn A không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0011701 ngày 27 tháng 8 năm 2025 của Thi hành án dân sự Thành phố H.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh; - THADS Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mai |