- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Neang P và ông Chau K"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ cầu khởi kiện của bà Néang P.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 58/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18/6/2025 “V/v tR chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con chung ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Minh Huyền
Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Ngọc Phượng;
2. Bà Lê Huỳnh Ngọc Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thúy Duy, thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Chau Pho Ly – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 118/2025/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 3 năm 2025 về việc “ TR chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2025/QĐXXST- HNGĐ, ngày 19 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 85/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 03/6/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Néang P, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ 11, ấp Ninh Thuận, xã An Tức, huyện Tri Tôn tỉnh An Giang (có mặt);
2. Bị đơn: Ông Chau K, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ 01, ấp Phước Thọ, xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang (vắng mặt);
3. Người làm chứng: Bà Néang U, sinh năm 1962; địa chỉ: Ấp Ninh Thuận, xã An Tức, huyện Tri Tôn tỉnh An Giang (vắng mặt);
4. Người phiên dịch: Ông Chau Kim S ; địa chỉ: Ấp Phnôm Pi, xã Châu Lăng, tỉnh An Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản không tiến hành hòa giải được tại Tòa án bà Néang P trình bày:
Về hôn nhân: Vào năm 2014 thì bà và ông K quen biết nhau do qua mai mối, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn số 79/2014, quyển số 01, ngày 24/11/2014 thì tại Ủy ban nhân dân xã An Tức, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn thì về sống bên nhà vợ tại tổ 11, ấp Ninh Thuận, xã An Tức, huyện Tri Tôn tỉnh An Giang. Đến năm 2017 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông K có thói hư tật xấu, không chí thú làm ăn nên năm 2019 thì ông K đem con chung về nhà mẹ ruột sinh sống từ đó cho đến nay. Nay tình cảm không còn bà P yêu cầu được ly hôn ông K.
Về con chung: Có một con chung tên Néang Kim R , sinh ngày 07/12/2014. Hiện tại con chung đang do ông K nuôi dưỡng. Bà P đồng ý giao con chung cho ông K nuôi dưỡng và bà không cấp dưỡng nuôi con chung do ông K không yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người làm chứng bà Néang U cho biết: Bà là mẹ ruột của bà P. Về mâu thuẫn của vợ chồng bà P thì bà không rõ, nhưng bà xác định vợ chồng bà P ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Hiện tại cháu R đang do ông K nuôi dưỡng và ông có nghề nghiệp làm công nhân.
Tòa án đã tiến hành đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự cho bị đơn ông Chau K. Tuy nhiên, ông K vẫn không tham gia tố tụng. Vì vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải giữa các đương sự được.
Tại phiên tòa bà P vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, ông K vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Hội đồng xét xử công bố biên bản lấy lời khai và kết quả xác minh về tình trạng hôn nhân, nơi cư trú của ông K.
Phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng, quan điểm giải quyết vụ án:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý giải quyết án Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 35, Điều 68, Điều 97, Điều 227, Điều 229 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng quy định về xét xử phiên tòa sơ thẩm.
Về chấp hành pháp luật của đương sự thì nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ, chấp hành đúng quy định tại Điều 71. Tuy nhiên bị đơn đã được tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần hai nên không thực hiện Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tR luận của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhận thấy theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tR luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà Néang P kiện yêu cầu ly hôn ông Chau K có địa chỉ tại tổ 1, ấp Phước Thọ, xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn tỉnh An Giang nên thuộc tR chấp ly hôn và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của bị đơn và người làm chứng: Tòa án án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông K và bà U. Tuy nhiên ông K đã vắng mặt lần hai và bà Nây đã có lời khai cho Tòa án. Xét đây là lần vắng mặt lần hai của ông K nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn người làm chứng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Vào đầu năm 2014 bà P và ông K quen biết nhau do qua mai mối, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn số 79/2014, quyển số 01, ngày 24/11/2014 thì tại Ủy ban nhân dân xã An Tức, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang nên đây là hôn nhân hợp pháp phù hợp theo Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Theo lời khai của bà P cho rằng vợ chồng mâu thuẫn từ năm 2017 do ông K không chí thú làm ăn nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, nay tình cảm không còn nên bà P yêu cầu được ly hôn.
Theo lời khai của bà U (mẹ ruột của bà P) cho biết: Về mâu thuẫn vợ chồng bà P thì bà không rõ, nhưng từ năm 2019 đến nay vợ chồng đã ly thân. Về con chung thì ông K đang nuôi dưỡng, ông K có nghề nghiệp làm công nhân.
Biên bản xác minh tại ấp Ninh Thuận xã An Tức và ấp Phước Thọ xã Ô Lâm địa phương cho biết: Ông Chau K có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp Phước Thọ, xã Ô Lâm. Hiện tại ông K đi làm ăn xa có đi đi về về. Về mâu thuẫn vợ chồng thì địa phương không rõ do không nghe trình bày, hiện tại địa phương biết ông K đang nuôi con chung.
Xét thấy, lời khai của bà P, các biên bản lời khai và biên bản xác minh phù hợp với nhau về việc hiện tại ông K và bà P đã ly thân với nhau từ năm 2019 và ông K đang nuôi con chung nên việc trình bày của bà P cho rằng mâu thuẫn nguyên nhân do ông K có thói hư tật xấu, không chí thú làm ăn nên vợ chồng ly thân nay bà yêu cầu ly hôn là có căn cứ. Nhận thấy, thời gian ly thân quá lâu để vợ chồng cùng hàn gắn tình cảm nhưng cả hai vẫn không thể hàn gắn được tình cảm vợ chồng đến nay thì bà P và ông K vẫn còn ly thân đều đó chứng tỏ hai bên không có tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc.
Cho nên, tình trạng hôn nhân của vợ chồng ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà P theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà P và ông K có một con chung Néang Kim R , sinh ngày 07/12/2014. Bà P đồng ý giao cháu R cho ông K nuôi dưỡng và bà không cấp dưỡng nuôi con chung.
Nhận thấy, hiện tại cháu R đang do ông K nuôi dạy. Bà P không phải cấp dưỡng nuôi con do ông K vắng mặt tại phiên tòa không ghi nhận được ý kiến, nên việc cấp dưỡng nuôi con sẽ được quyết định khi ông K có yêu cầu phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, xét chấp nhận.
Căn cứ Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình thì sau khi ly hôn cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định pháp luật mà không ai được quyền cản trở.
Trên cơ sở lợi ích của con, khi có yêu cầu của đương sự hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà P khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân theo mức án phí không giá ngạch.
Ông K không phải chịu án phí hôn nhân.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 9, Điều 56, Điều 58, khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 229, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận toàn bộ cầu khởi kiện của bà Néang P.
Về hôn nhân: Bà Néang P được ly hôn với ông Chau K
Giấy chứng nhận kết hôn số 79/2014, quyển số 01, ngày 24/11/2014 thì tại Ủy ban nhân dân xã An Tức, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.
Về con chung: Ông Chau K được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Néang Kim R , sinh ngày 07/12/ 2014. Bà Néang P không phải cấp dưỡng nuôi con do ông K vắng mặt không ghi nhận được ý kiến, nên việc cấp dưỡng nuôi con sẽ được quyết định khi ông K có yêu cầu.
Sau khi ly hôn cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định pháp luật mà không ai được quyền cản trở.
Trên cơ sở lợi ích của con, khi có yêu cầu của đương sự hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà Néang P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân, gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0020052 ngày 25/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tri Tôn.
Ông Chau K không phải chịu án phí hôn nhân.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh An Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKS.ND huyện Tri Tôn; - THA.DS huyện Tri Tôn; - TAND Tỉnh An Giang; - Lưu Văn phòng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Minh Huyền |