- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Công H + ĐP phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật s…"
- Tòa quyết gì? 1/ Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Công H, Phạm Thành Đ và Lương Nguyễn Anh T về việc xin giảm nhẹ hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58 /2024/HSPT Ngày: 01-02-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trung.
Các thẩm phán: Ông Trần Vĩnh Yên.
Bà Đỗ Thị Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Trần Ngọc Phương Trang - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mỹ Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 478/2023/TLPT-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 490/2023/QĐXXPT-HS ngày 21 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 11/2024/HS-QĐ ngày 17 tháng 01 năm 2024. Do có kháng cáo của các bị cáo Phạm Công H, Phạm Thành Đ, Lương Nguyễn Anh T đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 112/2023/HSST ngày 25-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Các bị cáo kháng cáo:
1/ Họ và tên: Phạm Công H, tên gọi khác: không. Sinh năm 2004, tại Đồng Nai.
Giới tính: Nam.
Nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam.
Họ và tên cha: Phạm Văn T1, sinh năm 1972
Họ và tên mẹ: Đỗ Thị M, sinh năm 1969.
Gia đình bị cáo có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ 6 và chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/4/2023 đến ngày 14/4/2023. Bị cáo tại ngoại (có mặt).
2/ Họ và tên: Phạm Thành Đ, tên gọi khác: không. Sinh năm 2002, tại Đồng Nai.
Giới tính: Nam.
Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam.
Họ tên cha: (Không rõ).
Họ tên mẹ: Phạm Thị T2, sinh năm 1969.
Gia đình bị cáo có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ hai và chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/4/2023 đến ngày 14/4/2023. Bị cáo tại ngoại (có mặt).
3/ Họ và tên: Lương Nguyễn Anh T, tên gọi khác: không. Sinh năm 2004, tại Đồng Nai.
Giới tính: Nam.
Nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam.
Họ và tên cha: Lương Xuân C, sinh năm 1968.
Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Thiên H1, sinh năm 1978.
Gia đình bị cáo có 4 anh chị em, bị cáo là con thứ ba và chưa có vợ, con.
Tiền sự, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/4/2023 đến ngày 14/4/2023. Bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Bị hại: Anh Phạm Ngọc T3, sinh năm 1984.
Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Buổi tối ngày 06/4/2023, trong lúc ngồi uống rượu, Phạm Công H kể cho Phạm Thành Đ và Lương Nguyễn Anh T nghe về việc giữa H và “Thọ Lác” (hiện chưa rõ lai lịch) đang có mâu thuẫn rồi rủ đi đánh T4 thì Đ và T đồng ý. Khi đi, H mang theo 01 cây kéo dài khoảng 25cm, tay cầm bọc nhựa màu đen, dạng kéo làm cá và 01 con dao dài khoảng 30cm, cán gỗ, đầu dao bằng rộng khoảng 7cm. Khoảng 22 giờ cùng ngày, khi đến ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Đ điều khiển xe mô tô biển số 60B3-822.77 chở H, T ngồi phía sau lạng lách, đánh võng, suýt va chạm với xe mô tô 60T3-8880 do anh Phạm Ngọc T3 điều khiển nên anh T3 hoảng hốt la lớn và dừng xe lại thì nhóm của H điều khiển xe quay lại để đánh anh T3. Khi đến gặp anh T3, H đưa con dao cho Đ lao đến dùng tay đánh rồi dùng kéo đâm vào hông anh T3. Bị đánh, anh T3 giằng co, chụp được kéo H đang cầm thì Đ lao đến dùng dao chém vào mặt bên trái, phía sau bên trái đầu, bàn tay trái của anh T3. Tiếp đó, T chạy đến dùng tay đánh vào người anh T3. Khi thấy anh T3 ngất xỉu, H, Đ và T đi về nhà, trên đường đi cả bọn vứt bỏ dao và kéo.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0331/KLTTCT-TTPYĐN ngày 14/4/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận về thương tích của bị hại Phạm Ngọc T3 như sau: Vết thương vùng chẩm; Phần vết thương vùng mũi; Phần vết thương gò má trái; Vết thương mu bàn tay trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của anh Phạm Ngọc T3 là 12% và đề nghị cơ quan cảnh sát điều tra trưng cầu giám định bổ sung sau khi bệnh nhân điều trị ổn định để xác định đầy đủ các tổn thương, di chứng kèm theo của tổn thương nế có và xác định vết sây sát da cùng lưng trái có để lại dấu vết hay không?
Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 0481/KLTTCT-TTPYĐN ngày 29/5/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ xác định anh Phạm Ngọc T3 giám định bổ sung: Vết biến đổi sắc tố da vùng lưng trái. Gãy thành xoang hàm trái không di lệch. Gãy xương chính mũi không ảnh hưởng chức năng thở. Gãy xương gò má trái không ảnh hưởng chức năng. Tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định bổ sung của Phạm Ngọc T3 là 33%.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 112/2023/HSST ngày 25-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai đã Quyết định:
Căn cứ:
- Điểm a, i khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo và áp dụng thêm Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T.
Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Công H, Phạm Thành Đ và Lương Nguyễn Anh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt:
- Bị cáo Phạm Công H 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án hình phạt tù, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 08/4/2023 đến ngày 14/4/2023.
- Bị cáo Phạm Thành Đ 05 (năm) năm 02 (hai) tháng tù Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án hình phạt tù, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 08/4/2023 đến ngày 14/4/2023
- Bị cáo Lương Nguyễn Anh T 03 (ba) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án hình phạt tù, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 08/4/2023 đến ngày 14/4/2023.
- Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 03/10/2023, Phạm Công H, Phạm Thành Đ, Lương Nguyễn Anh T kháng cáo, đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Hành vi của các bị cáo Phạm Công H, Phạm Thành Đ, Lương Nguyễn Anh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền về sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang, lo sợ cho quần chúng nhân nhân dân và gây mất tình hình an ninh tại địa phương. Các bị cáo đã phạm vào các tình tiết theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Khi xét xử, cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội cố ý gây thương tích là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và mức độ phạm tội. Mặc dù các bị cáo cung cấp được chứng cứ mới thể hiện gia đình có hoàn cảnh khó khăn nhưng không có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 112/2023/HSST ngày 25-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Các bị cáo Phạm Công H, Phạm Thành Đ, Lương Nguyễn Anh T kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung kháng cáo:
Về hành vi phạm tội:
Căn cứ lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo, bị hại, cũng như các tài liệu được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 22 giờ ngày 06/4/2023, tại ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Phạm Công H, Phạm Thành Đ và Lương Nguyễn Anh T chỉ vì mâu thuẫn nhỏ đã có hành vi dùng các hung khí nguy hiểm như dao, kéo để đâm, chém vào các vị trí như đầu, mặt, tay, đùi của anh Phạm Ngọc T3. Theo Bản kết luận giám định số 0481/KLTTCT-TTPYĐN ngày 29/5/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ xác định anh Phạm Ngọc T3 có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 33%.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác là khách thể được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến trật tự, trị an tại địa phương. Các bị cáo đã dùng dao, kéo để đâm, chém bị hại chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nên đã phạm đến các tình tiết dùng hung khí nguy hiểm và có tính chất côn đồ theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự, thể hiện các bị cáo là những người coi thường pháp luật. Toà án nhân dân huyện Tân Phú xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” và căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 54, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo H 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù; xử phạt bị cáo Đ 05 (năm) năm 02 (hai) tháng tù; xử phạt bị cáo T 03 (ba) năm 08 (tám) tháng tù là đúng người, đúng tội, không oan sai và đã xem xét đầy đủ tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo để có mức án phù hợp.
Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo, nhận thấy:
Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cung cấp những chứng cứ mới: Đơn xin cứu xét hoàn cảnh khó khăn của bị cáo H, Đ, T; Bị cáo H có ông (cha của bị cáo gọi bằng cậu) là liệt sĩ, đã hy sinh trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Tuy nhiên, mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo Phạm Công H, Phạm Thành Đ, Lương Nguyễn Anh T là đã xem xét đầy đủ, toàn diện các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân, hoàn cảnh điều kiện gia đình của các bị cáo. Mức án cấp sơ thẩm tuyên đối với các bị cáo là phù hợp với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo.
Về án phí HSPT: Do không chấp nhận kháng cáo nên mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
1/ Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Công H, Phạm Thành Đ và Lương Nguyễn Anh T về việc xin giảm nhẹ hình phạt.
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 112/2023/HSST ngày 25-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
2/ Tuyên bố các bị cáo Phạm Công H, Phạm Thành Đ và Lương Nguyễn Anh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phạm Công H, Phạm Thành Đ.
Xử phạt:
- Bị cáo Phạm Công H 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án phạt tù nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 08/4/2023 đến ngày 14/4/2023.
- Bị cáo Phạm Thành Đ 05 (năm) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án phạt tù nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 08/4/2023 đến ngày 14/4/2023.
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lương Nguyễn Anh T.
Xử phạt bị cáo Lương Nguyễn Anh T 03 (ba) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án phạt tù nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 08/4/2023 đến ngày 14/4/2023.
3/ Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm b, khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
Bị cáo Phạm Công H, Phạm Thành Đ và Lương Nguyễn Anh T mỗi người phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./
| Nơi nhận:; - Cục THADS tỉnh Đồng Nai; - Cơ quan Thi hành án hình sự tỉnh ĐN - VKSND tỉnh Đồng Nai; - TAND huyện Tân Phú; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Các bị cáo; - Lưu hồ sơ, văn phòng. CÁC THẨM PHÁN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Trung HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |