vanban.org

Bản án 58/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Cà THị T đối với anh Hà Thế T.

Xử cho chị Cà THị T được ly hôn anh Hà Thế T. 2 .Về con chung: Giao cho Cà THị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Hà Diệp T sinh ngày 03/4/2020 cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Cà Thị Thuông xin ly hôn anh Hà THế Tùng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Cà THị T đối với anh Hà Thế T.
  • Căn cứ chính? Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 58/2024/HNGĐ-ST
Ngày 04 tháng 7 năm 2024
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Toàn

Các hội thẩm nhân dân: Ông Quàng Văn Tiện, ông Trần Thành Vân

- Thư ký phiên tòa:

Ông Trần Quốc Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa:

Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên

Ngày 04 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 89/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2024 về việc Ly hôn - Theo quyết định xét xử số: 49/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Cà THị T - Sinh năm 1989; Nơi cư trú: Bản T, xã Y, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Hà Thế T, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Bản T, xã Y, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Hiện đang cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 02 năm 2024 và bản tự khai chị Cà THị T trình bày:

Chị và anh Hà Thế T kết hôn với nhau năm 2014 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Yên Hưng, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La vào ngày 10/02/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do quan điểm sống khác nhau, hai vợ chồng thường xuyên cãi vã, anh Tùng nghiện chất ma túy và phải đi cai nghiện nhiều lần. Nay chị xác nhận tình cảm vợ chồng không còn, vì vậy đề nghị Tòa án nhân dân huyện xem xét giải quyết cho chị được ly hôn.

Về con chung: Chị và anh Hà Thế T có 01 con là Hà Diệp T sinh ngày 03/4/2020. Khi ly hôn chị đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con đến tuổi trưởng và không yêu cầu anh Tùng cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không kê khai. Không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Tại bản tự khai ngày 13/6/2024 bị đơn anh Hà Thế T trình bày:

Anh thừa nhận việc anh và chị Thuông kết hôn với nhau từ năm 2014, vợ chồng có 01 con chung, quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân được một thời gian. Nay chị Thuông có yêu cầu ly hôn anh đồng ý, anh nhất trí giao con Hà Diệp T sinh ngày 03/4/2020 cho chị Thuông trực tiếp nuôi dưỡng và anh không phải cấp dưỡng. Về tài sản chung anh không kê khai, không yêu cầu giải quyết, về nợ chung không có.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện tại phiên toà:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán, thư ký đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng; Quá trình xét xử Hội đồng xét xử đã tuân theo quy định của Pháp luật và các thủ tục. Nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật từ thời điểm thụ lý vụ án và đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Cà THị T đối với anh Hà Thế T . Xử cho chị Cà THị T ly hôn anh Hà Thế T.

- Về con chung: Giao con Hà Diệp T sinh ngày 03/4/2020 cho chị Cà THị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi, anh Tùng không phải cấp dưỡng nuôi con cùng .

- Về tài sản chung: Các đương sự không kê khai và không đề nghị giải quyết, nên không xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Các đương sự đều khai nhận không có., nên không xem xét giair quyết.

- Về án phí: Chị Cà THị T được miễn án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và đã được xem xét thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về pháp luật tố tụng:

Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết: Chị Cà THị T khởi kiện đề nghị giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hà Thế T, nên xác định quan hệ pháp luật là Ly hôn, theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Hà Thế T có nơi cư trú tại huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, do vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc không hòa giải: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và bị đơn đều có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, do vậy vụ án thuộc trường hợp không thể tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử là đảm bảo theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Cà THị T và anh Hà Thế T kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Yên Hưng, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La vào năm 2014, căn cứ khoản 1 Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 xác định quan hệ hôn nhân của anh chị là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Qua các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy mâu thuẫn gia đình giữa chị Thuông và anh Tùng xuất phát từ việc hai vợ chồng không hợp tính cách, không cùng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã, anh Tùng nghiện chất ma túy phải đi cai nghiện bắt buộc nhiều lần dẫn đến gia đình không hạnh phúc, bản thân chị Thuông và anh Tùng đều nhất trí và mong muốn được ly hôn, tuy nhiên do anh Tùng đang đi cai nghiện bắt buộc, mặt khác anh chị đều có đơn đề nghị không tiến hành hoà giải, do vậy Toà án không thể tiến hành hoà giải để công nhận thuận tình ly hôn mà phải đưa vụ án ra xét xử. Xét mâu thuẫn đã kéo dài, tình cảm vợ chồng đã hết, mục đích của hôn nhân không đạt được, việc quyết định cho chị Thuông ly hôn anh Tùng là phù hợp với nguyện vọng của các bên đương sự, có căn cứ và phù hợp với các quy định tại Điều 55, 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Tại các tài liệu có trong hồ sơ chị Cà THị T đề nghị được trực tiếp nuôi con Hà Diệp T sinh ngày 03/4/2020. Xét thấy tại bản khai anh Tùng nhất trí giao con cho chị Thuông được trực tiếp nuôi dưỡng, do vậy chấp nhận yêu cầu của chị Thuông, giao con Hà Diệp T cho chị Thuông trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Tùng không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Tùng có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, là phù hợp với các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự đều không kê khai tài sản chung và không yêu cầu giải quyết. Các đương sự đều khai không có nợ chung. Nên không đặt vấn đề giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Chị Cà THị T là người đồng bào dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin được miễn nộp tạm ứng án phí, án phí được Tòa án chấp nhận, nên được miễn toàn bộ án phí xin ly hôn theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ các Điều 55, 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Cà THị T đối với anh Hà Thế T.

Xử cho chị Cà THị T được ly hôn anh Hà Thế T.

2 .Về con chung: Giao cho Cà THị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Hà Diệp T sinh ngày 03/4/2020 cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Anh Hà Thế T không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị Thuông. Anh Tùng có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Cà THị T được miễn nộp án phí ly hôn theo quy định.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Cà THị T, anh Hà Thế T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ