vanban.org

Bản án 58/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về việc nuôi con chung chưa thành niên: Căn cứ các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; giao cho Vũ Thị H trực tiếp nuôi con Trần Thị Phương T1, sinh ngày 04-4-2015.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12- 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; buộc: Chị Vũ Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoà Thanh"
  • Tòa quyết gì? Về việc nuôi con chung chưa thành niên: Căn cứ các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; giao cho Vũ Thị H trực tiếp nuôi con Trần Thị Phương T1, sinh ngày 04-4-2015.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIAO THỦY
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 14- 6- 2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hoàng Thị Lan;

Ông Trần Xuân Thu.

- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Mừng - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Xuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giao Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 53/2024/TLST-HNGĐ ngày 14- 3- 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1985; địa chỉ: Xóm X, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; “có mặt’.

- Bị đơn: Anh Trần Chí T, sinh năm 1979; địa chỉ: Xóm X, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; “vắng mặt’.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai tại Toà án, nguyên đơn chị Vũ Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Chí T tự nguyện tìm hiểu, kết hôn, đã được Ủy ban nhân dân xã G cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 25- 12- 2002. Sau đó, vợ chồng sống hòa thuận đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T ghen tuông, rồi nhiều lần đánh đập chị. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 2 năm 2022 cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với nhau được nữa nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Chí T.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Trần Quang M, sinh ngày 05-10-2003 và Trần Minh P, sinh ngày 25-12-2005 đã trưởng thành, tự lập được; Trần Thị Phương T1, sinh ngày 04-4-2015. Hiện cháu T1 đang ở cùng anh T. Khi ly hôn, chị nhận trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị không đề nghị giải quyết.

Ý kiến của anh Trần Chí T: Anh thừa nhận về quan hệ hôn nhân, việc anh có đánh chị H khi chị H có nhắn tin tình cảm qua lại với nam giới khác rồi vợ chồng sống ly thân, cũng như về con chung như chị H trình bày. Anh mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng chị H nuôi con và cam kết sẽ sửa chữa, không đánh đập chị H nữa. Trong trường hợp ly hôn, anh nhận nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng.

Ý kiến của con chung Trần Thị Phương T1: Khi bố mẹ cháu ly hôn, cháu được ở với ai do bố mẹ cháu quyết định.

Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ tại xã G, huyện G: Việc kết hôn, chung sống vợ chồng, nuôi con chung như chị Vũ Thị H trình bày.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, cho ly hôn giữa chị Vũ Thị H và anh Trần Chí T. Căn cứ vào các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, giao con chung là Trần Thị Phương T1, sinh ngày 04-4-2015 cho chị Vũ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bị đơn anh Trần Chí T được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị H và anh Trần Chí T kết hôn hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng của chị H và anh T không có hạnh phúc, anh T có bạo lực gia đình với chị H, vợ chồng đã không chung sống cùng nhau trong thời gian dài. Nay chị H xin ly hôn, anh T không nhất trí nhưng không có biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng Như vậy, mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa chị Vũ Thị H và anh Trần Chí T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Vũ Thị H và anh Trần Chí T, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về việc nuôi con: Xác định vợ chồng chị Vũ Thị H và anh Trần Chí T có 03 con chung là Trần Quang M, sinh ngày 05-10-2003 và Trần Minh P, sinh ngày 25-12-2005 đã trưởng thành, tự lập được; Trần Thị Phương T1, sinh ngày 04-4-2015. Con chung Trần Quang M, Trần Minh P đã trưởng thành nên không cần giải quyết việc nuôi con. Xét điều kiện nuôi con của chị H và anh T thì thấy việc giao cháu Trần Thị Phương T1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét điều chỉnh.

Về án phí: Chị Vũ Thị H là nguyên đơn nên phải nộp án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; xử cho ly hôn giữa chị Vũ Thị H và anh Trần Chí T.

2. Về việc nuôi con chung chưa thành niên: Căn cứ các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; giao cho Vũ Thị H trực tiếp nuôi con Trần Thị Phương T1, sinh ngày 04-4-2015. Anh Trần Chí T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12- 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; buộc: Chị Vũ Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0004523 ngày 14- 3- 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy. Chị Vũ Thị H đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chị Vũ Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Trần Chí T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ