vanban.org

Bản án 58/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T

Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Thiên A, sinh ngày 18/5/2021, đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có thay đổi khác. Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thă… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và tranh chấp về nuôi con chung."
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN CHẤN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26-9-2024
V/v: Ly hôn và tranh chấp về
nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẤN,TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thành Long.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Dương Trung Lợi;

- Ông Hoàng Khánh Toàn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Bá Đạt - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương - Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 9 năm 2024 Toà án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 177/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 về việc Ly hôn và tranh chấp về nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 55/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2024; Thông báo mở lại phiên tòa số: 157/2024/TB-TA ngày 10 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 2000; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt - có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt - không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trong đơn khởi kiện và biên bản lấy lời khai, trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 16/11/2020 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại thôn M, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T thường xuyên rượu chè, cờ bạc. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Từ tháng 6/2022 chị H và anh T sống ly thân không quan tâm đến nhau nữa. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn T có 01 con chung là cháu Nguyễn Thiên A, sinh ngày 18/5/2021, nếu ly hôn chị H có nguyện vọng nuôi con chung và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Nguyễn Văn T không đến Tòa án để giải quyết vụ án.

Tại biên bản xác minh ngày 16/7/2024 Trưởng thôn Mỵ, xã T, huyện V cho biết: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn T tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện V ngày 16/11/2020. Sau khi kết hôn chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn T chung sống tại Thôn M, xã T, huyện V. Quá trình chung sống chị H và anh T có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T thường xuyên rượu chè, chơi cờ bạc. Mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã được gia đình và chính quyền địa phương hòa giải nhưng không thành. Chị H và anh T đã sống ly thân từ tháng 6/2022 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Thiên A, sinh ngày 18/5/2021, hiện do chị H chăm sóc. Trưởng thôn cho biết hiện nay thu nhập bình quân lao động tại địa phương là khoảng 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng/01 tháng.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn tham gia Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

+ Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn T có 01 con chung là cháu Nguyễn Thiên A, sinh ngày 18/5/2021, ly hôn giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

+ Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn T có đăng ký hộ khẩu tại thôn M, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái, vụ án do Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng tại phiên tòa anh Nguyễn Văn T vẫn vắng mặt không có lý do. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn do đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do thể hiện thái độ cố tình trốn tránh nghĩa vụ đối với nguyên đơn. Chị Nguyễn Thị H vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị H và anh T.

Về quan hệ tranh chấp: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn T kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V. Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn T phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Nguyễn Văn T thường xuyên uống rượu, cờ bạc, chị Nguyễn Thị H đã nhiều lần tha thứ nhưng anh Nguyễn Văn T không thay đổi. Mâu thuẫn được gia đình hai bên hoà giải nhưng không thành. Tòa án đã triệu tập anh T đến Tòa án giải quyết nhưng anh T không đến Tòa án. Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn T có 01 con chung là cháu Nguyễn Thiên A, sinh ngày 18/5/2021, hiện đang do chị H chăm sóc. Ly hôn chị H có nguyện vọng nuôi con chung và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vẫn có tình lẩn tránh, thể hiện bỏ mặc nghĩa vụ chăm sóc con chung. Mức thu nhập hàng tháng của chị H khoảng 5 triệu đồng/ 1 tháng. Xét điều kiện chỗ ăn ở, mức thu nhập HĐXX xét thấy: Giao con chung là cháu Nguyễn Thiên A, sinh ngày 18/5/2021cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu anh Nguyễn Văn T phải cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét.

Về tài sản và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Thiên A, sinh ngày 18/5/2021, đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có thay đổi khác. Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm ly hôn được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2024/0000746 ngày 15/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí.

4. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày niêm yết Bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự,người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ