vanban.org

Bản án 58/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 29/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 10/4/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a điểm c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 10/4/2023.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2023/HSST
Ngày 29 th¸ng 8 n¨m 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ánh Dương

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Kiểm.

2. Ông Nguyễn Quốc Sửu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Nam - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Tân Yên.

- Đại diện VKSND huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Oanh– Kiểm sát viên .

Trong ngày 29 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 54/2023/HSST ngày 24 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2023/HSST- QĐ ngày 07 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

* Họ và tên: Nguyễn Văn T- sinh năm 1986

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam

- Nơi cư trú: Xóm P, xã T, huyện P, tỉnh T.

- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

- Nghề nghiệp: Tự do;

Trình độ học vấn: 8/12;

- Họ và tên cha: Nguyễn Văn L- sinh năm 1947;

- Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị L- sinh năm 1950;

- Vợ: Vũ Thị M- sinh năm 1991 (đã ly hôn);

- Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2013;

- Gia đình bị cáo có 06 anh em, bị cáolà con thứ sáu;

- Tiền án, tiền sự: Chưa.

- Bị cáo bị bắt trong trường hợp bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/4/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn T:

- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1950 (Vắng mặt)

- Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1947 (Có mặt)

Đều cư trú: Xóm P, xã T, huyện P, tỉnh T.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T:

- Bà Lê Thị Ngọc L – Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Lê L và cộng sự, Đoàn luật sư tỉnh B (Có mặt).

- Bà Nguyễn Thị H - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (Có mặt).

* Bị hại:

- UBND Thị trấn N, huyện T: Do ông Nguyễn Văn B, Chủ tịch, đại diện (Vắng mặt).

- Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ánh D - Phó chủ tịch UBND Thị trấn N (Vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ban quản lý di tích Lịch sử - Nghệ thuật cấp quốc gia Chùa Tứ G Thị trấn N: Do ông Nguyễn Ánh D– Trưởng ban, đại diện (Vắng mặt).

- Ban hộ tự di tích Lịch sử - Nghệ thuật cấp quốc gia Chùa Tứ G Thị trấn N: Do bà Dương Thị Thanh P- Tổ trưởng, đại diện (Vắng mặt).

- Chị Nguyễn Thị Trà M, sinh năm 1985 (Vắng mặt)

Cư trú: Tổ dân phố T, Thị trấn N, huyện T, tỉnh B.

- Ông Trương Quốc B, sinh năm 1960 (Vắng mặt)

Cư trú: Tổ dân phố C, Thị trấn N, huyện T, tỉnh B.

- Ông Nguyễn Xuân N, sinh năm 1954 (Vắng mặt)

Cư trú: Tổ dân phố T, Thị trấn N, huyện T, tỉnh B.

- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1950 (Vắng mặt)

- Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1947 (Có mặt)

Đều cư trú: Xóm P, xã T, huyện P, tỉnh T.

* Người làm chứng:

- Chị Lương Thị T, sinh năm 1983 (Vắng mặt)

Cư trú: Tổ dân phố T, Thị trấn N, huyện T, tỉnh B.

- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1982 (Vắng mặt)

- Chị Vũ Thị T, sinh năm 1956 (Vắng mặt)

- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1967 (Vắng mặt)

- Anh Nguyễn Tiến D, sinh năm 1959(Vắng mặt)

Đều cư trú: Tổ dân phố C, Thị trấn N, huyện T, tỉnh B.

- Chị Lương Huyền T, sinh năm 1988 (Vắng mặt)

Cư trú: Tổ dân phố T, Thị trấn N, huyện T, tỉnh B.

- Anh Thân Văn T, sinh năm 1966 (Vắng mặt)

Cư trú: Tổ dân phố T, Thị trấn N, huyện T, tỉnh B.

- Chị Phạm Kim T, sinh năm 1983 (Vắng mặt)

Cư trú: Thôn S, xã T, huyện T, tỉnh B.

- Anh Phạm Văn M, sinh năm 1982 (Vắng mặt)

Cư trú: Thôn M, xã T, huyện Y, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Buổi tối ngày 07/4/2023, Nguyễn Văn T- sinh năm 1986, trú tại Xóm P, xã T, huyện P, tỉnh T đi bộ một mình từ nhà đến Thị trấn N, huyện T, tỉnh B mục đích để trộm cắp tài sản. Khi đi T mặc áo dài tay màu trắng, quần dài màu đen, đi dép màu trắng, đeo khẩu trang màu trắng, mang theo một chiếc cặp sách (có đặc điểm màu đen cũ, đã qua sử dụng, bên ngoài cặp có chữ “HOANGHAMOBILE.COM”) bên trong đựng một chiếc kìm cộng lực (có đặc điểm màu đen, dài 35cm, đầu hai tay cầm có ốp nhựa màu đen, trên lưỡi có chữ "MEINFA") và chiếc tua vít (có đặc điểm có tay cầm màu trắng - đỏ - xanh, trên có chữ "HUAYUE"; thân tua vít bằng kim loại hình lục giác, một đầu dẹt, một đầu bốn cạnh, dài 17cm, đường kính 0,5cm), một chiếc áo dài tay màu xanh và một chiếc mũ vải màu xanh. Khoảng 23 giờ cùng ngày 07/4/2023, T đi đến khu di tích lịch sử chùa Tứ G thuộc tổ dân phố Chùa Nguộn, Thị trấn N, huyện T, tỉnh B thấy cổng chùa khóa, bên trong không có người trông coi nên T trèo qua tường bên trái cổng chính vào trong sân chùa. Khi vào trong sân chùa, T thay áo dài tay màu trắng thành áo dài tay màu xanh và đội mũ vải màu xanh lên đầu (áo dài tay màu trắng T cất lại vào trong chiếc cặp sách) để tránh sự phát hiện của người khác rồi đi đến cửa nhà Tam Bảo thuộc khu di tịch lịch sử chùa Tứ G, dùng kìm cộng lực mang theo cắt phá khóa cửa đi vào trong. Vào trong nhà Tam Bảo, T quan sát thấy có camera an ninh nên đã dùng cây chân hương bằng gỗ (dài khoảng 55cm, đường kính 01cm) có sẵn trong nhà Tam Bảo chọc chỉnh góc camera xuống thấp để tránh sự phát hiện của mọi người. Sau đó, T quan sát thấy 02 chiếc két sắt đựng tiền công đức ở trong nhà Tam Bảo nên T đi đến vị trí chiếc két sắt đựng tiền công đức ở phía trước (theo hướng từ ngoài cửa nhìn vào có đặc điểm kích thước (49x36x75) cm, nhãn hiệu Việt Tiệp, size 45, No 11411, TL 160) dùng 01 chiếc tua vít lách vào cánh cửa két cho cánh cửa hở ra rồi, rồi đưa kìm cộng lực vào cậy phá két trộm cắp tiền có các mệnh giá khác nhau (từ 1.000 đồng đến 500.000 đồng) bên trong két sắt cho vào trong cặp sách mang theo. Sau khi cậy, phá và lấy được tiền trong két phía trước thì T tiếp tục đi ra vị trí chiếc két sắt đựng tiền công đức ở phía sau (theo hướng từ ngoài cửa nhìn vào- có đặc điểm kích thước (49x36x75)cm, nhãn hiệu Việt Tiệp, size 45, No 11412, TL 160) T dùng tô vít và kìm cộng lực cậy phá trước két này để trộm cắp tiền có các mệnh giá khác nhau bên trong két sắt cho vào trong cặp sách mang theo. Sau đó, T tiếp tục đi đến nhà Mẫu phía sau (phía bên phải nhà Tam Bảo- theo hướng từ ngoài cổng nhìn vào), dùng kìm cộng lực cắt phá khóa cửa vào trong nhà Mẫu. Khi vào trong nhà Mẫu, T thấy 01 hòm công đức bằng gỗ kích thước (52x48x88)cm nên đi đến dùng tua vít cậy phá cửa hòm, trộm cắp tiền có các mệnh giá khác nhau bên trong hòm công đức cho vào trong cặp sách mang theo rồi trèo qua tường bao bên phải chùa Tứ G ra vườn cây bên cạnh, khi trèo tường ra T làm rơi chiếc kìm cộng lực. Sau đó, T đi bộ về nhà trên đường đi T có hút thuốc lá, khi đi đến tổ dân phố P, Thị trấn N, huyện T (cách chùa Tứ G khoảng 01 km) T có vứt 01 đầu lọc thuộc lá, trên có chữ "Canyon" xuống đường. Khi về đến nhà, T chia tiền thành từng tập có cùng mệnh giá buộc thành từng cọc ngâm vào nước xả vải rồi khoét một lỗ vuông dưới đệm giường ngủ của T, cất giấu những tập tiền có mệnh giá 50.000 đồng, 100.000 đồng, 200.000 đồng, 500.000 đồng; T cất các tập tiền có mệnh giá 10.000 đồng, 20.000 đồng vào trong gối của T; Còn tiền lẻ cất giấu vào hộp cattong và trong cuốn sổ tay, chiếc tua vít dùng để cạy phá két sắt và hòm gỗ T cất vào trong vỏ hộp sữa để ở góc phòng ngủ của T (BL 445- 448).

Sau khi phát hiện bị mất trộm tiền tại chùa Tứ G, ngày 08/4/2023, Công an Thị trấn N đã báo cáo vụ việc trên đến Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Yên. Cùng ngày 08/4/2023, Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Yên đã tổ chức khám nghiệm hiện trường, quá trình khám nghiệm hiện trường Cơ quan điều tra đã thu giữ:

* Thu tại nhà Tam Bảo khu di tích lịch sử chùa Tứ G:

- 01 két sắt kích thước (49x36x75)cm, nhãn hiệu Việt Tiệp, size 45, No 11411, TL 160, cũ đã qua sử dụng, bị cạy phá, hư hỏng.

- 01 két sắt kích thước (49x36x75)cm, nhãn hiệu Việt Tiệp, size 45, No 11412, TL 160, cũ đã qua sử dụng, bị cạy phá, hư hỏng.

- 02 phong bì giấy màu trắng, trong đó 01 phong bì trên có ghi "Đ/c Nguyễn Thị Lan Hương- Trưởng phòng tài chính huyện"; 01 phong bì trên có ghi "Công an tỉnh Quảng Ninh- Phòng tham mưu".

- 01 khóa cửa bằng kim loại, màu đen, nhãn hiệu KVT và thanh chốt cửa bằng kim loại đã bị gãy thành hai phần.

- 01 cây đế hương vòng bằng gỗ, dài 55cm, đường kính 01cm, một đầu có chóp hình nấm (BL 116- 119).

* Thu tại nhà Mẫu khu di tích lịch sử chùa Tứ G:

- 01 hòm công đức bằng gỗ, kích thước (52x48x88)cm, cũ đã qua sử dụng, bị cậy phá, hư hỏng.

- 01 khóa cửa nhãn hiệu Việt Tiệp, màu vàng, bằng kim loại và them chốt cửa bằng kim loại bị gãy làm hai phần, trên có dấu vết cắt phá.

* Thu tại vườn cây sau nhà vệ sinh ở bên ngoài chùa Tứ G: 01 chiếc kìm cộng lực màu đen, dài 35cm, đầu hai tay cầm có ốp nhựa màu đen, trên lưỡi có chữ "MEINFA", đã qua sử dụng.

Ngày 09/4/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Yên đã thu giữ tại đường bê tông, cạnh mương nước thuộc tổ dân phố Phúc Thành, Thị trấn N, huyện T (cách chùa Tứ G khoảng 01 km) 01 đầu lọc thuộc lá, trên có chữ "Canyon" (BL 221).

Ngày 09/4/2023, Công an Thị trấn N, huyện T đã giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Yên dữ liệu điện tử được trích xuất từ camera an ninh của Công an Thị trấn N được lưu trữ trong 01 đĩa DVD nhãn hiệu Maxel màu vàng ghi lại hình ảnh Nguyễn Văn T có mặt tại khu vực gần Nhà văn hóa tổ dân phố Phúc Thành, Thị trấn N, huyện T vào ngày 07/4/2023 (BL 215).

Cùng ngày 09/4/2023, ông Nguyễn Ánh D- Phó chủ tịch UBND Thị trấn N-Trưởng ban quản lý di tích lịch sử- nghệ thuật cấp quốc gia chùa Tứ G đã giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Yên: 01 đĩa DVD nhãn hiệu Maxel màu cam và 01 ổ cứng (nhãn hiệu Camera WD purple số loại WDPURX, dung lượng 2TB, số seri WCCM1DVF5, đã qua sử dụng) có hình ảnh liên quan đến vụ việc “Trộm cắp tài sản” xảy ra ngày 07/4/2023 tại chùa Tứ G (BL 218, 231).

Ngày 09/4/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Yên đã tiến hành khám xét khẩn cấp đối với nơi ở của Nguyễn Văn T. Quá trình khám xét khẩn cấp thu giữ các vật chứng sau:

- Thu tại dây phơi sát mép tường bên trái từ cửa chính đi vào 01 (một) chiếc áo dài tay màu xanh cũ, đã qua sử dụng.

- Thu tại nền nhà, sát tường gần cửa chính bên trái từ ngoài vào 01 (một) đôi dép màu trắng đục, bên trên có nhiều chữ “NIKE”, dép cũ đã qua sử dụng.

- Thu tại nền nhà, sát tường, gần cửa chính bên trái từ ngoài vào 01 (một) đôi găng tay cao su cũ, đã qua sử dụng.

- Thu tại giá để bát 01 (một) đôi găng tay cao su cũ đã qua sử dụng.

- Thu tại bàn bên phải gần cửa chính từ ngoài vào 01 (một) vỏ bao thuốc lá, trên vỏ bao có chữ “Canyon”.

- Thu tại bàn ở giữa nhà ở 02 (hai) vỏ bao thuốc lá trên vỏ bao có chữ “Canyon”.

- Thu tại bờ tường phía bên phải từ cửa chính đi vào 01 (một) chiếc cặp màu đen cũ, đã qua sử dụng. Bên ngoài cặp có chữ “HOANGHAMOBILE.COM”, bên trong cặp có chứa 1.451.000 đồng.

- Thu tại cạnh ba lô để ở góc nhà bên phải từ ngoài vào 01 (một) chiếc mũ vải, bên ngoài màu xanh, bên trong màu vàng. Mũ cũ đã qua sử dụng.

- Số tiền 28.000.000 đồng thu tại trong chiếc gối trên giường ngủ.

- Số tiền 81.150.000 đồng thu trong đệm, trên giường ngủ.

- Số tiền 3.036.000 đồng thu tại trên bàn ở giữa nhà.

Số tiền trên bao gồm nhiều loại tiền có mệnh giá khác nhau; toàn bộ số tiền trên được niêm phong trong 01 hộp bìa cát tông, mặt trên có chữa “GIÀY DA SỸ QUAN NAM CẤP TÁ” màu xanh (BL 147- 148).

Ngày 10/4/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Yên đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn T. Quá trình giữ người Cơ quan điều tra thu giữ 01 chiếc áo dài tay màu xám.

Ngày 10/04/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Yên đã tiến hành thu giữ 10 sợi tóc (gồm cả phần tóc và phần chân) của Nguyễn Văn T và thu giữ mẫu sơn từ 02 chiếc két sắt thu khi khám nghiệm hiện trường (ký hiệu 3, 4) để phục vụ công tác giám định.

Ngày 22/6/2023, ông Nguyễn Văn L- sinh năm 1947 (là bố đẻ của T, ở cùng địa chỉ với T) tự nguyện giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Yên các vật chứng sau: 01 (một) thân tua vít bằng kim loại hình lục giác, một đầu dẹt, một đầu bốn cạnh, dài 17cm, đường kính 0,5cm; 01 (một) thân tua vít bằng kim loại hình trụ tròn, một đầu dẹt, một đầu bốn cạnh, ở giữa có điểm nối bằng nhựa màu đen, dài 18cm, đường kính 0,4cm; 01 (một) tay cầm tua vít màu trắng - đỏ - xanh, trên có chữ "HUAYUE" (BL: 223).

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Yên đã tiến hành trưng cầu giám định và có kết luận giám định như sau:

Tại Kết luận giám định ADN số 228/23/KLGDADN-PYQG ngày 12/4/2023 của Viện pháp y quốc gia kết luận: ADN thu được từ chiếc kìm cộng lực và đầu lọc thuốc lá trùng khớp hoàn toàn với AND của Nguyễn Văn T trên tất cả các locus STR đã phân tích (BL 37, 38).

Tại Kết luận giám định số 689/KL-KTHS ngày 18/4/2023 của Phòng lỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

- Dấu vết cắt trên 02 (hai) thanh kim loại then cài và dấu vết cắt trên thanh kim loại móc khóa (càng) của khóa màu vàng nhãn hiệu “Việt Tiệp” là do công cụ có hai lưỡi cắt (kìm cộng lực) tạo nên.

- Dấu vết hằn lõm kim loại, mất sơn, hướng từ trên xuống dưới ở cạnh ngoài đáy chữ “U” của khóa màu vàng, nhãn hiệu “Việt Tiệp” phù hợp với dấu vết mài trượt kim loại, bám dính chất màu vàng (dạng sơn) ở cạnh ngoài lưỡi cắt in dòng chữ “MEINFA” của kìm cộng lực (BL 60).

Tại Bản kết luận giám định số 2600/KL-KTHS ngày 04/5/2023 của Viện khoa học hình sự, Bộ Công an, kết luận:

- Trong 01 (một) chiếc cặp màu đen, trên cặp có chữ "HOANGHAMOBILE.COM" gửi giám định có tìm thấy các mảnh chất màu xanh và vàng cùng loại với sơn màu xanh và vàng của 02 (hai) chiếc két sắt bị cậy phá (ký hiệu 3 và 4) gửi làm mẫu so sánh.

- Trong 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong có: 01 (một) chiếc áo dài tay màu xanh; 01 (một) đôi dép, màu trắng đục, trên có nhiều chữ "Nike"; 01 (một) chiếc mũ vải màu xanh; 02 (hai) đôi găng tay cao su gửi giám định có tìm thấy các mảnh chất màu xanh cùng loại với sơn màu xanh của 02 (hai) két sắt bị cạy phá (ký hiệu 3 và 4) gửi làm mẫu so sánh (BL: 45, 46).

Tại Bản kết luận giám định số 648/KL-KTHS ngày 11/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận (BL 53):

- Phát hiện 05 (năm) mảnh màu vàng (dạng sơn, ma tít) bám dính trên bề mặt các tờ tiền (trạng thái bề mặt bám dính nước) ký hiệu từ M1 đến M5, thu bằng phương pháp sử dụng băng dính dán cố định (bảng thống kê kèm theo).

Ký hiệu

Số seri

Mệnh giá

M1

ZW 18365856

10.000đ (mười nghìn đồng)

M2

CL 19335133

20.000đ (hai mươi nghìn

đồng)

M3

ST 17226913

50.000đ (năm mươi nghìn

đồng)

M4

XL 17689405

50.000đ (năm mươi nghìn

đồng)

M5

XP 20119764

50.000đ (năm mươi nghìn

đồng)

Tại Bản kết luận giám định số 2713/KL-KTHS ngày 10/5/2023 của Viện khoa học hình sự, Bộ Công an, kết luận:

- Các mảnh chất màu vàng bám dính trên bề mặt các tờ tiền được thu bằng băng dính màu trắng (ký hiệu lần lượt từ M1, M2, M4 và M5) gửi giám định đều cùng loại sơn màu vàng của 02 (hai) két sắt bị cậy phá (ký hiệu 3 và 4) gửi làm mẫu so sánh kèm theo Quyết định trưng cầu giám định số 67/QĐ-ĐTTH ngày 10/4/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

- Mẫu ký hiệu M3 quá ít nên không đủ yếu tố để giám định so sánh (BL: 104).

Tại Bản kết luận giám định số 1225/KL-KTHS ngày 04/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận:

- Dấu vết lõm, trượt xước mất sơn, kim loại ở mép trong thành két bên trái và mép trong cánh cửa của 02 (hai) két nhãn hiệu "Việt Tiệp" gửi giám định được hình thành do vật tày cứng có cạnh và tay đòn (như hai đầu của tô vít) cậy bẩy tạo nên.

- Dấu vết hằn lõm, rách kim loại ở góc dưới cùng bên trái cánh cửa của 02 (hai) két nhãn hiệu "Việt Tiệp" gửi giám định được hình thành do vật tày có cạnh tác động tạo nên. Các dấu vết trên phù hợp với dấu vết mài trượt kim loại bám dính chất màu vàng (dạng sơn) trên 02 (hai) lưỡi cắt của kìm cộng lực gửi giám định.

- Dấu vết lõm, vỡ khuyết gỗ ở mặt ngoài cạnh thành cánh cửa (vị trí ổ khóa) của hòm công đức gửi giám định được hình thành do vật tày cứng có cạnh bản rộng dưới 0,6cm (như đầu dẹp của tô vít) tác động cậy bẩy tạo nên (BL: 97).

Tại Bản kết luận giám định số 742/KL-KTHS ngày 26/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận: Tìm thấy, trích xuất được 47 (bốn mươi bẩy) file video trong một ổ cứng HDD gửi giám định có khoảng thời gian từ 22 giờ 00 phút ngày 07/4/2023 đến 01 giờ 00 phút ngày 08/4/2023 (thời gian hiển thị trên khung hình của file video), các dữ liệu trích xuất có tổng dung lượng 46,6GB được lưu trữ vào 01 (một) thiết bị lưu trữ USB nhãn hiệu Kingston, dung lượng 64GB, màu bạc (BL: 67).

Tại Bản kết luận giám định số 1086/KL-KTHS ngày 15/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận:

- Không phát hiện dấu vết cắt ghép nội dung hình ảnh trong các file video lưu trữ trong 02 (hai) đĩa DVD-R gửi giám định.

- Trích xuất được 10 (mười bốn) hình ảnh thể hiện diễn biến sự việc có trong các file video gửi giám định (BL: 84).

Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 65/KLGĐ ngày 26/5/2023 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc- Bộ y tế, kết luận:

- Nguyễn Văn T, sinh năm 1986, trú tại Xóm P, xã T, huyện P, tỉnh T bị bệnh Tâm thần phân liệt thể paranoid, mã bệnh F20.0, giai đoạn bệnh ổn định.

- Tại thời điểm xảy ra vụ án, ngày 07/4/2023, Nguyễn Văn T bị bệnh Tâm thần phân liệt thể paranoid, giai đoạn bệnh ổn định. Nguyễn Văn T đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.

- Hiện tại (thời điểm giám định) Nguyễn Văn T bị bệnh Tâm thần phân liệt thể paranoid, giai đoạn bệnh ổn định. Nguyễn Văn T đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi (BL: 75, 76).

Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 19/KL-ĐGTS ngày 01/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Yên, kết luận:

- 01 (một) Két sắt Việt Tiệp, size 45, số N0 11411, trọng lượng 160kg do Công ty TNHH sản xuất và an toàn kho quỹ sản xuất (đã qua sử dụng). Phần góc dưới bên trái cánh cửa và vỏ két vị trí bên trái cánh cửa bị cong vênh, bẹp mép bong tróc sơn; khóa mã số bị hỏng, trị giá 550.000đ (Năm trăm năm mươi nghìn đồng chẵn).

- 01 (một) Két sắt Việt Tiệp, size 45, số N0 11412, trọng lượng 160kg do Công ty TNHH sản xuất và an toàn kho quỹ sản xuất (đã qua sử dụng). Phần mép cánh cửa bên trái và vỏ két vị trí bên trái cánh cửa bị cong vênh, bẹp mép bong tróc sơn; khóa mã số bị hỏng, trị giá 550.000đ (Năm trăm năm mươi nghìn đồng chẵn).

- 01 (một) cánh cửa hòm công đức bằng gỗ dổi, kích thước (80 x 36 x 3,5)cm đã qua sử dụng, tại vị trí cạnh khóa cửa bị cậy phá khuyết mất một phần gỗ ở bên trái cánh, kích thước (14 x 01)cm, trị giá 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng chẵn).

- 01 (một) ổ khóa Việt Tiệp lắp ở cánh cửa hòm công đức, loại ở khóa tròn có lẫy chốt bên trong (đã qua sử dụng), bị hư hỏng phần lẫy khóa bên trong, trị giá 10.000đ (Mười nghìn đồng chẵn).

- 01 (một) khóa cửa bằng kim loại, nhãn hiệu Việt Tiệp, màu vàng, loại khóa hình chữ "U", kích thước thân khóa (7,3 x 4,9 x 1,8)cm, chốt khóa thẳng (đã qua sử dụng) bị cắt đứt phần chốt khóa, trị giá 30.000đ (Ba mươi nghìn đồng chẵn).

- 02 (hai) then cài cửa bằng kim loại, mỗi then dài 17cm, đường kính đầu nhỏ 1,5cm (đã qua sử dụng) bị cắt đứt làm hai phần, trị giá 10.000đ (Mười nghìn đồng).

Tổng giá trị tài sản: 1.850.000đ (Một triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) (BL: 110, 111).

Quá trình điều tra Nguyễn Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Ngày 05/7/2023, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Nguyễn Văn T thực nghiệm điều tra, diễn tả lại hành vi cậy phá két sắt và hòm công đức để trộm cắp tài sản tại chùa Tứ G vào ngày 07/4/2023. Quá trình thực nghiệm, Nguyễn Văn T đã diễn tả lại hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của T và những chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ.

Đối với các tài sản, đồ vật: 01 chiếc kìm cộng lực màu đen, dài 35cm, đầu hai tay cầm có ốp nhựa màu đen, trên lưỡi có chữ "MEINFA"; 01 chiếc áo dài tay màu xanh, đã qua sử dụng; 01 đôi dép màu trắng đục, trên có nhiều chữ "Nike"; 02 đôi găng tay cao su; 01 chiếc cặp vải màu đen, bên ngoài có chữ "HOANGHAMOBILE.COM"; 01 chiếc mũ vải bên ngoài màu xanh, bên trong màu vàng; 01 chiếc áo dài tay, màu xám, gần cổ áo trước bên trái có chữ "Que cluci"; 01 (một) thân tua vít bằng kim loại hình lục giác, một đầu dẹt, một đầu bốn cạnh, dài 17cm, đường kính 0,5cm; 01 (một) tay cầm tua vít màu trắng - đỏ - xanh, trên có chữ "HUAYUE" đều đã qua sử dụng; 01 đầu lọc thuộc lá, trên có chữ "Canyon"; 03 vỏ bao thuốc lá trên có chữ "Canyon" là tài sản đồ vật của Nguyễn Văn T sử dụng và mặc khi thực hiện hành vị trộm cắp ngày 07/4/2023. Còn 01 (một) thân tua vít bằng kim loại hình trụ tròn, một đầu dẹt, một đầu bốn cạnh, ở giữa có điểm nối bằng nhựa màu đen, dài 18cm, đường kính 0,4cm đã qua sử dụng là tài sản của T không liên quan đến hành vi phạm tội.

Quá trình điều tra xác định số tiền 113.637.000 đồng; 01 đầu thu nhãn hiệu Camera WD purple số loại WDPURX, dung lượng 2TB, số seri WCCM1DVF5, đã qua sử dụng; 01 két sắt kích thước (49x36x75)cm, nhãn hiệu Việt Tiệp, size 45, No 11411, TL 160, cũ đã qua sử dụng, bị cậy phá, hư hỏng; 01 két sắt kích thước (49x36x75)cm, nhãn hiệu Việt Tiệp, size 45, No 11412, TL 160, cũ đã qua sử dụng, bị cậy phá, hư hỏng; 01 hòm công đức bằng gỗ, kích thước (52x48x88)cm, cũ đã qua sử dụng, bị cạy phá, hư hỏng; 01 khóa cửa bằng kim loại, màu đen, nhãn hiệu KVT và thanh chốt cửa bằng kim loại đã bị gãy thành hai phần; 01 cây đế hương vòng bằng gỗ, dài 55cm, đường kính 01cm, một đầu có chóp hình nấm; 01 khóa cửa nhãn hiệu Việt Tiệp, màu vàng, bằng kim loại và then chốt cửa bằng kim loại bị gãy làm hai phần, trên có dấu vết cắt phá là tài sản của UBND Thị trấn N quản lý nên Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Yên đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại các tài sản trên cho UBND Thị trấn N, nay UBND Thị trấn N không có yêu cầu gì về việc bồi thường thiệt hại.

Quá trình điều tra T khai nhận T có mua 01 chiếc kìm cộng lực màu đen, dài 35cm, đầu hai tay cầm có ốp nhựa màu đen, trên lưỡi có chữ "MEINFA" để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 07/4/2023 tại cửa hàng sắt Luyến Anh do anh Nguyễn Trung T- sinh năm 1992 và chị Lương Thị H - sinh năm 1992 đều trú tại tổ dân phố số 1, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái N làm chủ. Tuy nhiên anh T và chị H đều không nhớ có bán kìm cho T không. Mặt khác, T không nhận ra được anh T, chị H có phải là người bán kìm cho T không nên không có căn cứ xem xét xử lý đối với anh T, chị H.

Đối với hành vi cậy phá làm hỏng 02 két sắt, 01 hòm công đức bằng gỗ, 02 khóa cửa và 02 then cửa tại chùa Tứ G để trộm cắp tài sản. Tuy nhiên tổng giá trị tài sản bị hư hỏng dưới 2.000.000 đồng. Bản thân T chưa bị xử lý hành chính hoặc bị kết án về tội "Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản" nên hành vi của T không đủ yếu tố cấu thành tội "Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản" quy định tại Điều 178 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu đến Công an huyện Tân Yên để ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T về hành vi "Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản" quy định tại điểm a khoản 2 Điều 15 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ theo quy định.

Bản Cáo trạng số: 50/CT-VKS, ngày 21/7/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đồng thời đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm q điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 08 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 10/4/2023.

* Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a điểm c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc kìm cộng lực màu đen, dài 35cm, đầu hai tay cầm có ốp nhựa màu đen, trên lưỡi có chữ "MEINFA"; 01 (một) chiếc áo dài tay màu xanh cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) đôi dép màu trắng đục, bên trên có nhiều chữ “NIKE”, dép cũ đã qua sử dụng; 02 (hai) đôi găng tay cao su cũ, đã qua sử dụng; 01 chiếc cặp vải màu đen, bên ngoài có chữ "HOANGHAMOBILE.COM", đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc mũ vải, bên ngoài màu xanh, bên trong màu vàng. Mũ cũ đã qua sử dụng; 01 đầu lọc thuốc lá, trên có chữ “Canyon”; 01 (một) thân tua vít bằng kim loại hình lục giác, một đầu dẹt, một đầu bốn cạnh, dài 17cm, đường kính 0,5cm; 01 (một) thân tua vít bằng kim loại hình trụ tròn, một đầu dẹt, một đầu bốn cạnh, ở giữa có điểm nối bằng nhựa màu đen, dài 18cm, đường kính 0,4cm đã qua sử dụng; 01 (một) tay cầm tua vít màu trắng - đỏ - xanh, trên có chữ "HUAYUE"; 02 phong bì giấy màu trắng, một phong bì trên có ghi “Đ/c Nguyễn Thị Lan, Trưởng phòng tài chính huyện”, một phong bì có ghi “Công an tỉnh Quảng Ninh – Phòng tham mưu”. Tất cả tang vật được niêm phong theo quy định; 01 chiếc áo dài tay, màu xám, gần cổ áo trước bên trái có chữ “Quecluci”, đã qua sử dụng; 03 (ba) vỏ bao thuốc lá trên có chữ “Canyon”.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T là bà Lê Thị Ngọc Lý và bà Nguyễn Thị Hòa cùng thống nhất phát biểu: Về hành vi phạm tội, tội danh, điều khoản áp dụng truy tố đối với bị cáo là đúng, không tranh luận. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm p điểm q điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 01 Điều 54, Điều 38 của BLHS, đề nghị xem xét bị cáo là người khuyết tật nặng, nhận thức về xã hội, pháp luật có sự hạn chế nên đã phạm tội, đề nghị xử phạt bị cáo 20 tháng tù dưới mức khởi điểm của khung hình phạt bị truy tố để có điều kiện cải tạo thành người tốt.

Bị cáo Nguyễn Văn T nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối cải. Đề nghị giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng khác của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Khoảng 23 giờ ngày 07/4/2023, tại khu di tích lịch sử chùa Tứ G thuộc tổ dân phố Chùa Nguộn, Thị trấn N, huyện T, tỉnh B; Nguyễn Văn T đã có hành vi trộm cắp số tiền 113.637.000 đồng tiền công đức tại nhà Tam Bảo và Nhà Mẫu thuộc khu di tích lịch sử chùa Tứ G do UBND Thị trấn N, huyện T quản lý.

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn T tại phiên tòa phù hợp với: lời khai của bị cáo tại CQĐT, Đơn trình báo, lời khai của nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt của UBND Thị trấn N, huyện T với tổng số tiền là 113.637.000 đồng. Như vậy, hành vi trên của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 02 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên và kết luận của Kiểm sát viên truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền quản lý, sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy hành vi của bị cáo cần phải được xử lý bằng pháp luật hình sự để giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này. Cần xử phạt tù với thời hạn nhất định đối với bị cáo để bị cáo biết tuân thủ pháp luật và có điều kiện tu dưỡng rèn luyện bản thân làm người có ích cho gia đình và xã hội như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát và một phần đề nghị của bị cáo, người bào chữa là có cơ sở.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Không có.

Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo bị bệnh tâm thần phân liệt bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Bị cáo hoàn thành tốt nghĩa vụ quân sự. Nên, bị cáo Nguyễn Văn T được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm q điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của BLHS.

Bị cáo Nguyễn Văn T đã được giám định tâm thần và được kết luận bị bệnh Tâm thần phân liệt thể paranoid, giai đoạn bệnh ổn định. Bị cáo Nguyễn Văn T đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi thuộc trường hợp “Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình”. Nên bị cáo T không thuộc trường hợp là người khuyết tật nặng theo Điều 3 Luật người khuyết tật do vậy không áp dụng điểm p khoản 01 Điều 51 BLHS như người bào chữa đề nghị.

Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của BLHS đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra xác định số tiền 113.637.000 đồng; 01 đầu thu nhãn hiệu Camera WD purple số loại WDPURX, dung lượng 2TB, số seri WCCM1DVF5, đã qua sử dụng; 01 két sắt kích thước (49x36x75)cm, nhãn hiệu Việt Tiệp, size 45, No 11411, TL 160, cũ đã qua sử dụng, bị cậy phá, hư hỏng; 01 két sắt kích thước (49x36x75)cm, nhãn hiệu Việt Tiệp, size 45, No 11412, TL 160, cũ đã qua sử dụng, bị cậy phá, hư hỏng; 01 hòm công đức bằng gỗ, kích thước (52x48x88)cm, cũ đã qua sử dụng, bị cạy phá, hư hỏng; 01 khóa cửa bằng kim loại, màu đen, nhãn hiệu KVT và thanh chốt cửa bằng kim loại đã bị gãy thành hai phần; 01 cây đế hương vòng bằng gỗ, dài 55cm, đường kính 01cm, một đầu có chóp hình nấm; 01 khóa cửa nhãn hiệu Việt Tiệp, màu vàng, bằng kim loại và then chốt cửa bằng kim loại bị gãy làm hai phần, trên có dấu vết cắt phá là tài sản do UBND Thị trấn N quản lý nên Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Yên đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại các tài sản trên cho UBND Thị trấn N là đúng. Nay UBND Thị trấn N, huyện T, Ban quản lý di tích lịch sử - nghệ thuật cấp quốc gia chùa Tứ G không có yêu cầu hoặc đề nghị gì nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a điểm c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc kìm cộng lực màu đen, dài 35cm, đầu hai tay cầm có ốp nhựa màu đen, trên lưỡi có chữ "MEINFA"; 01 (một) chiếc áo dài tay màu xanh cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) đôi dép màu trắng đục, bên trên có nhiều chữ “NIKE”, dép cũ đã qua sử dụng; 02 (hai) đôi găng tay cao su cũ, đã qua sử dụng; 01 chiếc cặp vải màu đen, bên ngoài có chữ "HOANGHAMOBILE.COM", đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc mũ vải, bên ngoài màu xanh, bên trong màu vàng. Mũ cũ đã qua sử dụng; 01 đầu lọc thuốc lá, trên có chữ “Canyon”; 01 (một) thân tua vít bằng kim loại hình lục giác, một đầu dẹt, một đầu bốn cạnh, dài 17cm, đường kính 0,5cm; 01 (một) thân tua vít bằng kim loại hình trụ tròn, một đầu dẹt, một đầu bốn cạnh, ở giữa có điểm nối bằng nhựa màu đen, dài 18cm, đường kính 0,4cm đã qua sử dụng; 01 (một) tay cầm tua vít màu trắng - đỏ - xanh, trên có chữ "HUAYUE"; 02 phong bì giấy màu trắng, một phong bì trên có ghi “Đ/c Nguyễn Thị Lan, Trưởng phòng tài chính huyện”, một phong bì có ghi “Công an tỉnh Quảng Ninh – Phòng tham mưu”. Tất cả tang vật được niêm phong theo quy định; 01 chiếc áo dài tay, màu xám, gần cổ áo trước bên trái có chữ “Quecluci”, đã qua sử dụng; 03 (ba) vỏ bao thuốc lá trên có chữ “Canyon” vì không có giá trị, không sử dụng được và bị cáo T đề nghị tịch thu, tiêu hủy.

Quá trình điều tra T khai nhận T có mua 01 chiếc kìm cộng lực màu đen, dài 35cm, đầu hai tay cầm có ốp nhựa màu đen, trên lưỡi có chữ "MEINFA" để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 07/4/2023 tại cửa hàng sắt Luyến Anh do anh Nguyễn Trung T- sinh năm 1992 và chị Lương Thị H- sinh năm 1992 đều trú tại tổ dân phố số 1, thị trấn H, huyện P, tỉnh T làm chủ. Tuy nhiên anh T và chị H đều không nhớ có bán kìm cho T không. Mặt khác, T không nhận ra được anh T, chị H có phải là người bán kìm cho T không nên không có căn cứ xem xét xử lý đối với anh T, chị H.

Đối với hành vi cậy phá làm hỏng 02 két sắt, 01 hòm công đức bằng gỗ, 02 khóa cửa và 02 then cửa tại chùa Tứ G để trộm cắp tài sản. Tuy nhiên tổng giá trị tài sản bị hư hỏng dưới 2.000.000 đồng. Bản thân T chưa bị xử lý hành chính hoặc bị kết án về tội "Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản" nên hành vi của T không đủ yếu tố cấu thành tội "Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản" quy định tại Điều 178 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu đến Công an huyện Tân Yên để ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T về hành vi "Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản" quy định tại điểm a khoản 2 Điều 15 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ theo quy định.

Bị cáo T thuộc hộ nghèo và bị cáo T là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình nên là người khuyết tật (theo Điều 2 Điều 3 Luật người khuyết tật) nên được miễn án phí theo điểm đ khoản 01 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm c khoản 02 Điều 173; Điểm q điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS.

2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 10/4/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a điểm c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc kìm cộng lực màu đen, dài 35cm, đầu hai tay cầm có ốp nhựa màu đen, trên lưỡi có chữ "MEINFA"; 01 (một) chiếc áo dài tay màu xanh cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) đôi dép màu trắng đục, bên trên có nhiều chữ “NIKE”, dép cũ đã qua sử dụng; 02 (hai) đôi găng tay cao su cũ, đã qua sử dụng; 01 chiếc cặp vải màu đen, bên ngoài có chữ "HOANGHAMOBILE.COM", đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc mũ vải, bên ngoài màu xanh, bên trong màu vàng. Mũ cũ đã qua sử dụng; 01 đầu lọc thuốc lá, trên có chữ “Canyon”; 01 (một) thân tua vít bằng kim loại hình lục giác, một đầu dẹt, một đầu bốn cạnh, dài 17cm, đường kính 0,5cm; 01 (một) thân tua vít bằng kim loại hình trụ tròn, một đầu dẹt, một đầu bốn cạnh, ở giữa có điểm nối bằng nhựa màu đen, dài 18cm, đường kính 0,4cm đã qua sử dụng; 01 (một) tay cầm tua vít màu trắng - đỏ - xanh, trên có chữ "HUAYUE"; 02 phong bì giấy màu trắng, một phong bì trên có ghi “Đ/c Nguyễn Thị Lan, Trưởng phòng tài chính huyện”, một phong bì có ghi “Công an tỉnh Quảng Ninh – Phòng tham mưu”. Tất cả tang vật được niêm phong theo quy định; 01 chiếc áo dài tay, màu xám, gần cổ áo trước bên trái có chữ “Quecluci”, đã qua sử dụng; 03 (ba) vỏ bao thuốc lá trên có chữ “Canyon” .

(Vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số: 42/QĐ-VKS, ngày 21/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên).

5. Áp dụng khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Văn T được miễn án phí.

Bị cáo, người bào chữa, đại diện hợp pháp của bị cáo (có mặt) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, đại diện hợp pháp của bị cáo, người có quyền, nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ