vanban.org

Bản án 58/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 25/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt Nguyễn Văn H 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/12/2022. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58 /2023/HSST
Ngày: 25/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Tuấn

2. Ông Dương Viết Vĩnh

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Giáp, Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: Ông Đàm Hoàng Sơn, chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2023, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện P xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 36/2023/HSST ngày 23/3/2023 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn H, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không.

- Sinh ngày 25/5/1997 tại Thái Nguyên.

- Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: xóm B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không nghề; Trình độ văn hóa: 08/12; Con ông: Nguyễn Văn L, Sinh năm: 1969; Con bà: Hạc Thị H, Sinh năm: 1969; Vợ, con: không có; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình;

- Tiền án, tiền sự: không có.

- Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 33 /2023/ QĐ – XPHC ngày 24/3/2023 Của Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Văn H 2.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản.

Bị cáo Nguyễn Văn H bị bắt tạm giam từ ngày 21/12/2022, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên.

- Bị hại: 1. Ông Mai Duy H, sinh năm 1963; (Vắng mặt tại phiên tòa).

Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

2. Anh Nông Đức C, sinh năm 1997; (Vắng mặt tại phiên tòa)

Nơi ĐKTT: Thôn Bản P, xã Thanh M, huyện C, tỉnh Bắc Kạn;

Chỗ ở hiện nay: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

3. Bà Trần Thị H, sinh năm 1971; (Vắng mặt tại phiên tòa);

Nơi cư trú: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

4. Anh Ma Phúc B, sinh năm 1995; (Có mặt tại phiên tòa);

Nơi cư trú: Xóm B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: 1. Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1987; (Vắng mặt tại phiên tòa).

Nơi cư trú: Xóm Làng D, xã T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

2. Ông Nguyễn Anh D, sinh năm 1974; (Vắng mặt tại phiên tòa);

Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

Người làm chứng: 1. Ạnh Dương Văn Q, sinh năm 1990; (Vắng mặt tại phiên tòa).

Nơi cư trú: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

2. Chị Hà Thị X, sinh năm 2002; (Vắng mặt tại phiên tòa);

Nơi ĐKTT: Thôn Bản P, xã Thanh M, huyện C, tỉnh Bắc Kạn;

Chỗ ở hiện nay: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Nguyễn Văn H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Nguyễn Văn H, sinh năm 1997, trú tại Xóm B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên là đối tượng nghiện ma túy loại Heroine từ năm 2020, do không có nghề nghiệp đồng thời cần tiền tiêu sài và mua ma túy để sử dụng nên khoảng đầu tháng 11/2022 đến cuối tháng 12/2022 Hùng đã thực hiện các vụ trộm cắp tài sản cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 18/11/2022, Nguyễn Văn H đang ở nhà thuộc xóm B, xã Đ, huyện Đ thì nhìn thấy anh Ma Phúc B cư trú cùng địa chỉ điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Winner X, màu sơn đỏ xanh trắng đen, biển kiểm soát 20C1-330.99 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Bào đến khu vực đồi Thẩm Tang thuộc xóm B, xã Đ để lấy củi. Anh Bào để xe ở rìa đường rồi đi vào đồi sử dụng cưa máy để cắt củi, chìa khoá vẫn cắm ở ổ khoá của xe. Khoảng 15 phút sau, Hùng một mình đi bộ từ nhà ra nhìn thấy chiếc xe môtô của anh Bào không có người trông giữ, chìa khoá vẫn cắm ở ổ khoá nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe để bán lấy tiền tiêu sài. Hùng mở khoá điện, nổ máy rồi điều khiển xe đi đến khu công nghiệp Vân Trung thuộc tỉnh Bắc Giang bán cho một người đi đường không quen biết được số tiền 5.000.000 đồng, tiền có được Hùng đã sử dụng để tiêu sài cá nhân hết, hiện tại chưa thu hồi được chiếc xe.

Sau khi biết Nguyễn Văn H trộm cắp xe mô tô của mình, ngày 09/01/2023 anh Ma Phúc B có đơn trình báo đề nghị Công an huyện P giải quyết vụ việc theo quy định pháp luật.

Ngày 12/01/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P ra yêu cầu định giá tài số 05/CSHS gửi Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P định giá đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X, màu sơn đỏ xanh trắng đen, biển kiểm soát 20C1-330.99 đã qua sử dụng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 05/KL-HĐĐGTS ngày 12 tháng 01 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận, chiếc xe mô biển kiểm soát 20C1-330.99 của anh Bào có giá trị là 36.000.000đ đồng.

Vụ thứ hai:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 05/12/2022, Hùng đi bộ một mình dọc đường tỉnh lộ 266 từ khu công nghiệp Điềm Thụy đi hướng đường tròn Điềm Thụy tìm tài sản sơ hở của người dân để trộm cắp. Khi đi đến khu vực cầu Kênh thuộc Xóm T, xã Điềm Thuỵ, huyện P, Hùng nhìn thấy một chiếc xe đạp điện nhãn hiệu HTC M133I, màu sơn đỏ đen là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Trần Thị H dựng trên vỉa hè phía trước cửa quán Lẩu Lòng Cầu Kênh lúc này bà Hợi đang làm việc trong quán. Hùng đi đến gần, ngồi lên chiếc xe khoảng 05 phút thì không thấy ai nói gì, Hùng nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe. Hùng đi ra đường bờ kênh quan sát thấy không có người nên quay lại vị trí chiếc xe, dùng hai tay dắt chiếc xe đi bộ về hướng khu công nghiệp Điềm Thụy. Đi được khoảng 100 m, Hùng dừng lại rút giắc điện nối với ổ khóa, đấu nối lại dây điện rồi đề nổ xe đạp điện, điều khiển xe đi theo đường Quốc lộ 3 hướng lên thành phố Thái Nguyên. Khoảng 09 giờ cùng ngày, Hùng điều khiển chiếc xe đến cửa hàng mua bán sửa chữa xe đạp điện Anh Dũng, của ông Nguyễn Anh D, sinh năm 1974, thuộc Tổ dân phố N, phường L, thành phố S bán chiếc xe cho ông Dũng được số tiền 800.000 đồng. Số tiền này Hùng đã tiêu sài cá nhân hết.

Ngày 12/12/2022, bà Trần Thị H có đơn trình báo sự việc bị mất chiếc xe đạp điện nhãn hiệu HTC M133I, màu sơn đỏ đen và đề nghị Công an huyện P giải quyết vụ việc theo quy định pháp luật.

Ngày 12/12/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P ra yêu cầu định giá tài sản số 115/CSHS ngày 12/12/2023 đối với chiếc xe đạp điện nhãn hiệu HTC M133I, màu sơn đỏ đen.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 117/KL-HĐĐGTS ngày 20 tháng 12 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận, chiếc xe đạp điện nhãn hiệu HTC M133I, màu sơn đỏ đen có giá trị là 2.000.000 đồng.

Vụ thứ ba:

Ngày 08/12/2022, Hùng đi bộ một mình quanh khu vực khu công nghiệp Điềm Thụy để tìm tài sản trộm cắp. Khoảng gần 04 giờ cùng ngày, Hùng đi qua khu nhà trọ của ông Dương Văn Đại, thuộc Xóm T, xã Đ, huyện P thì nhìn thấy cổng vào dãy nhà trọ không khóa cửa. Hùng mở cửa đi vào trong dãy nhà trọ, nhìn thấy chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đỏ đen bạc, biển kiểm soát 97B1-524.36 của anh Nông Đức C (Công là công nhân, đang thuê phòng trọ tại nhà ông Đại) dựng trước cửa phòng, không khóa cổ, không khóa càng. Hùng quan sát xung quanh không có người nên gạt chân chống xe, dắt lùi chiếc xe ra cổng dãy nhà trọ rồi dắt bộ đi ra đường tỉnh lộ 266 thì dừng lại. Hùng dùng hai tay cậy yên mở cốp xe thấy trong cốp xe không có tài sản gì. Tiếp đó Hùng dùng hai tay rút giắc điện nối với ổ khóa điện của xe môtô, dùng chân đạp vào cần đạp khởi động cho máy nổ, điều khiển xe đi sang khu công nghiệp Sông Công 2 để tìm chỗ bán xe. Khoảng 05 giờ cùng ngày, Hùng đi vào cửa hàng thu mua phế liệu của ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1987, thuộc Xóm Làng D, xã T, thành phố S gặp ông Thích, cầm cố chiếc xe được số tiền 1.400.000 đồng. Số tiền có được Hùng đã tiêu sài cá nhân hết.

Ngày 08/12/2022, anh Nông Đức C có đơn trình báo Cơ quan Công an đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

Ngày 12/12/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã ra yêu cầu định giá tài sản số 115/CSHS ngày 12/12/2022 gửi Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P định giá đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đỏ đen bạc, biển kiểm soát 97B1-524.36 đã qua sử dụng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 117/KL-HĐĐGTS ngày 20 tháng 12 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận, chiếc xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đỏ đen bạc, biển kiểm soát 97 B1-524.36 đã qua sử dụng có giá trị là 8.000.000 đồng.

- Vụ thứ tư:

Ngày 10/12/2022, do không có tiền tiêu sài, Nguyễn Văn H đi bộ lang thang một mình tại khu vực phường B, thành phố S tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Hùng phát hiện tại sân của gia đình ông Mai Duy H để một chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius biển kiểm soát 20B1-363.14 là tài sản hợp pháp của gia đình ông Hưng. Hùng dùng hai tay dắt chiếc xe ra khỏi sân nhà ông Hưng rồi dắt đến cửa hàng thu mua phế liệu của ông Nguyễn Hữu T để bán. Khi gặp ông Thích, Hùng nói muốn bán chiếc xe, ông Thích nói một lúc nữa quay lại, Hùng để chiếc xe tại cửa hàng của ông Thích rồi đi ăn sáng. Do nghi ngờ chiếc xe Hùng mang đến là tài sản trộm cắp, ông Thích đã gọi điện thoại trình báo Công an huyện P. Khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, Hùng đi bộ quay lại cửa hàng của ông Thích thì bị Công an huyện P phát hiện, lập biên bản sự việc, tạm giữ chiếc xe.

Ngày 10/12/2022, ông Mai Duy H trình báo vụ việc đến Công an thành phố S đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

- Ngày 14/01/2022, Cơ quan CSĐT Công an Thành phố S, tỉnh Thái Nguyên ra yêu cầu định giá tài sản 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 20B1-363.14 đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-HDDGTS ngày 12/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố S kết luận, chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 20B1-363.14 đã qua sử dụng có giá trị 5.333.000đ.

Ngày 01/02/2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên đã chuyển hồ sơ vụ án đến Cơ quan CSĐT Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên để điều tra theo quy định

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên. Lời khai của Hùng phù hợp với đơn trình báo, lời khai của người bị hại, người làm chứng, người liên quan, vật chứng thu giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận định giá tài sản và những chứng cứ tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án ngoài ra Hùng còn khai nhận ngày 26/11/2022, Hùng còn thực hiện thêm 01 hành vi trộm cắp tài sản tại khu đồi Thẩm Tang thuộc xóm B, xã Đ huyện Hóa của chị Ma Thị Mơ, sinh năm 1993, nơi thường trú: xóm B, xã Đ, huyện Đ 01 xe đạp điện nhãn hiệu TAKUDA 133 màu đỏ đen, không có biển kiểm soát là tài sản thuộc quyền sở hữu của chị Mơ có giá trị là 1.500.000đ.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 xe mô tô biển kiểm soát 20C1-330.99 của anh Ma Phúc B, quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên đã cho truy tìm vật chứng đối với chiếc xe trên đến nay chưa thu giữ được.

- 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu HTC M133I, màu sơn đỏ đen của bà Trần Thị Hợi, Cơ quan điều tra đã thu giữ tại cửa hàng của ông Nguyễn Anh D, ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu là bà Trần Thị H.

- 01 chiếc xe môtô biển kiểm soát 97B1-524.36 của anh Nông Đức C, Cơ quan điều tra đã thu giữ tại cửa hàng của ông Nguyễn Hữu T, ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu là anh Nông Đức C

- 01 chiếc xe môtô biển kiểm soát 20B1-363.14 của ông Mai Duy H, Cơ quan điều tra đã thu giữ tại cửa hàng của ông Nguyễn Hữu T, đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu là ông Mai Duy H.

- 01 (một) áo khoác dài tay màu vàng, trắng, đen, nhãn bên trong cổ áo có

dòng chữ “VOGUEHUMEN”, đã qua sử dụng; 01 (một) quần jean màu xám, nhãn bên trong cạp quần có in dòng chữ “JEAN FASHION”, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn H mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, tất cả được niêm phong trong hộp cát tông ký hiệu TP. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an huyện P theo quy định.

Về phần dân sự: Ông Mai Duy H, bà Trần Thị H và anh Nông Đức C đã nhận lại tài sản bị mất, không đề nghị bồi thường về dân sự; anh Ma Phúc B đề nghị Nguyễn Văn H bồi thường số tiền 36.000.000 đồng; ông Nguyễn Hữu T không đề nghị Nguyễn Văn H bồi thường số tiền 1.400.000 đồng; ông Nguyễn Anh D không đề nghị Hùng bồi thường số tiền 800.000đ. Hiện tại, Nguyễn Văn H chưa bồi thường dân sự cho anh Ma Phúc B.

Tại bản cáo trạng số 50/ CT - VKSPB ngày 21/3/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện P đã quyết định truy tố Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận toàn bộ hành vi đúng như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả; Bị cáo xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố là đúng người, đúng tội.

Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P giữ nguyên bản cáo trạng số 50/CT - VKSPB ngày 21/3/2023; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt Nguyễn Văn H từ 04 năm đến 05 năm tù;

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;

Vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo khoác dài tay màu vàng, trắng, đen, nhãn bên trong cổ áo có dòng chữ “VOGUEHUMEN”, đã qua sử dụng; 01 (một) quần jean màu xám, nhãn bên trong cạp quần có in dòng chữ “JEAN FASHION”, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn H mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, tất cả được niêm phong trong hộp cát tông ký hiệu TP.

Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Nguyễn Văn H là 2.200.000đ (Hai triệu hai trăm nghìn đồng)

Về dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H bồi thường cho anh Ma Phúc B số tiền 36.000.000đ.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ –UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST và 1.800.000đ án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

Trong phần tranh luận, bị cáo Nguyễn Văn H không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, tại lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện P, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn H tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Đơn trình báo, biên bản làm việc, biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, lời khai của các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và những chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định:

Trong khoảng thời gian từ ngày 18/11/2022 đến ngày 10/12/2022, Nguyễn Văn H thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản tại huyện Đ, huyện P và thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 51.333.000 đồng cụ thể:

Vụ thứ nhất: Ngày 06/10/2021, tại xóm xóm B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn H đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu Honda Winner X, màu sơn đỏ xanh trắng đen, biển kiểm soát 20C1-330.99 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Ma Phúc B có giá trị 36.000.000 đồng. Hiện tài sản chưa thu hồi được.

Vụ thứ hai: Ngày 27/10/2021, tại khu vực cầu Kênh thuộc Xóm T, xã Điềm Thuỵ, huyện P, Nguyễn Văn H đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu HTC M133I, màu sơn đỏ đen là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Trần Thị H có giá trị 2.000.000 đồng. hiện tài sản đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Trần Thị H quản lý và sử dụng.

Vụ thứ ba: Ngày 08/12/2022, tại khu nhà trọ của ông Dương Văn Đại, sinh năm 1973, thuộc Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Nguyễn Văn H đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đỏ đen bạc, biển kiểm soát 97B1-524.36 của anh Nông Đức C có giá trị 8.000.000 đồng. hiện tài sản đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Nông Đức C quản lý và sử dụng.

Vụ thứ tư: Ngày 10/12/2022, tại tại sân của gia đình ông Mai Duy H, sinh năm 1963, thuộc Tổ dân phố L, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn H đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 một chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius biển kiểm soát 20B1-363.14 là tài sản hợp pháp của gia đình ông Hưng giá trị 5.333.000 đồng. hiện tài sản đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Mai Duy H quản lý và sử dụng.

Vì vậy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017 như bản cáo trạng truy tố là đúng pháp luật.

Nội dung Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

Nội dung điều luật như sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm

a)....

b).....

c)Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000đ đến dưới 200.000.000đ”

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự của địa phương, gây hoang mang trong dư luận địa phương. Lỗi của các bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp.

Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo có nhân thân xấu đã bị xử phạt vi phạm hành chính, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng là phạm tội từ 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4]. Về hình phạt: Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò, cũng như nhân thân của bị cáo thì thấy rằng cần có có mức án nghiêm khắc để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo tính chất ngăn ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS nên Hội đồng xét xử giảm một phần hình phạt cho bị cáo. Xét thấy mức hình phạt từ 04 năm đến 05 năm tù mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P đề nghị khi luận tội đối với bị cáo Nguyễn Văn H là phù hợp với hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công việc và thu nhập không ổn định, không có tài sản gì để đảm bảo thi hành án, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với vật chứng là 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu HTC M133I, màu sơn đỏ đen là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Trần Thị H; 01 một chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius biển kiểm soát 20B1-363.14 là tài sản hợp pháp của gia đình ông Mai Duy H; 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đỏ đen bạc, biển kiểm soát 97B1-524.36 của anh Nông Đức C hiện đã thu hồi được và trả lại cho các bị hại quản lý, sử dụng Hội đồng xét xử ghi nhận việc các bị hại đã nhận lại được tài sản.

Đối với vật chứng là: 01 (một) áo khoác dài tay màu vàng, trắng, đen, nhãn bên trong cổ áo có dòng chữ “VOGUEHUMEN”, đã qua sử dụng; 01 (một) quần jean màu xám, nhãn bên trong cạp quần có in dòng chữ “JEAN FASHION”, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn H mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, tất cả được niêm phong trong hộp cát tông ký hiệu TP, đây là tài sản liên quan đến việc phạm tội, không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền bị cáo bán xe đạp điện cho ông Nguyễn Anh D và số tiền bị cáo cầm cố chiếc xe mô tô biển kiểm soát 97 B1 – 524.36 cho anh Nguyễn Hữu Thíc được 1.400.000đ, hiện nay ông Dũng và anh Thích không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền trên, nên đây được coi là số tiền bị cáo thu lời bất chính, Hội đồng xét xử quyết định truy thu của bị cáo để nộp ngân sách nhà nước

Về trách nhiệm dân sự: Đối với những tài sản là 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu Honda Winner X, màu sơn đỏ xanh trắng đen, biển kiểm soát 20C1-330.99 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Ma Phúc B có giá trị 36.000.000 đồng. Hiện tài sản chưa thu hồi được, anh Bào có yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị chiếc xe trên. Hội đồng xét xử cần buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại Ma Phúc B số tiền 36.000.000đ.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[7] Về các vấn đề khác:

- Đối với ông Nguyễn Anh D và ông Nguyễn Hữu T, khi mua tài sản của Nguyễn Văn H không biết là tài sản do Hùng trộm cắp mà có, đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra những tài sản mua của Hùng, do đó không có căn cứ để xử lý về hành vi tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có.

- Đối với người đàn ông mua xe mà Hùng trộm cắp được ngày 18/11/2022. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người đàn ông, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý sau.

- Đối với vụ trộm cắp tài sản ngày 26/11/2022, tại khu đồi Thẩm Tang thuộc xóm B, xã Đ. Do tài sản Hùng trộm cắp được có giá trị dưới 2.000.000 đồng, bản thân Hùng không có tiền án, tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản nên hành vi trộm cắp này của Hùng không cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu có liên quan đến hành vi này đến Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền. Ngày 24/3/2023 Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 33/ QĐ – XPHC đối với Nguyễn Văn H, mức phạt 2.500.000đ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

1. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;

2. Xử phạt Nguyễn Văn H 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/12/2022.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn H 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3.Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Hội đồng xét xử ghi nhận việc các bị hại: Bà Trần Thị H đã được nhận lại tài sản là 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu HTC M133I, màu sơn đỏ đen; Ông Mai Duy H đã được nhận lại tài sản là 01 một chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius biển kiểm soát 20B1-363.14; Anh Nông Đức C dã được nhận lại tài sản là 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đỏ đen bạc, biển kiểm soát 97B1-524.36.

Truy thu nộp ngân sách nhà nước số tiền bị cáo thu lời bất chính là 2.200.000đ (Hai triệu hai trăm nghìn đồng).

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo khoác dài tay màu vàng, trắng, đen, nhãn bên trong cổ áo có dòng chữ “VOGUEHUMEN”, đã qua sử dụng; 01 (một) quần jean màu xám, nhãn bên trong cạp quần có in dòng chữ “JEAN FASHION”, đã qua sử dụng, tất cả được niêm phong trong hộp cát tông ký hiệu TP.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/4/2023 giữa Công an huyện P và Chi cục thi hành án dân sự huyện P).

4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 589 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Ma Phúc B số tiền 36.000.000đ (Ba mươi sáu triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành khoản tiền trên thì phải chịu lãi suất chậm trả theo quy địnhu tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời giam chậm trả.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án, theo quy định taị điều 2 Luật thi hành án dân sự , thì người được thi hành án dân sự , người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án.

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ –UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự vào ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo, bị hại Ma Phúc B biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại Mai Duy H, Nông Đức C, Trần Thị H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh D, Nguyễn Hữu T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật /.

Cỡ chữ