- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Cường - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 58/2023/HS-ST Ngày: 17- 3- 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Anh Thƣ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ
2. Bà Vƣơng Thị Hồng Thanh
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, là Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2023, tạị trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 59/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 79/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Văn C, sinh năm 1979 tại tỉnh Ng; nơi ĐKHKTT: Xóm 2, xã Ng, thị xã Th, tỉnh Ng; giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Không; con ông Trần Kim C, sinh năm 1954 và bà Hồ Thị L, sinh năm 1954; Bị cáo có vợ là Vũ Thị H, sinh năm 1976; bị cáo có 01 con sinh năm 2013; Tiền sự: Không; Tiền án: Bản án số 27/2021/HSST ngày 20/7/2021 Toà án nhân dân thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 20/3/2022, đóng án phí hình sự và dân sự sơ thẩm ngày 22/7/2022.
Nhân thân: Quyết định số 79/QĐ- TA ngày 09/3/2015 của Toà án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đƣa Trần Văn C vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng, chấp hành xong ngày 23/6/2016.
Bản án số 138/2018/HSST ngày 12/6/2018 Toà án nhân dân thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dƣơng xử phạt bị cáo 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 17/01/2019 và đã đóng tiền án phí hình sự ngày 19/9/2018.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 08/9/2022 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Chị Võ Thị H, sinh năm 1994; trú tại: khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh B. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Bạch Trung Nhân, sinh năm 2003; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 08/9/2022, Trần Văn C đi bộ trên đƣờng Xuyên Á thuộc khu phố Bình Đƣờng 3, phƣờng An Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Lúc này chị Võ Thị H điều khiển xe đạp điện đi từ phía sau C chạy đến, trên giỏ xe chị H có chiếc túi nilon màu đen bên trong có chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A3S màu đỏ lộ ra. Trong lúc chị H dừng xe chờ đoàn tàu hoả đi qua, C nhanh chóng giật chiếc điện thoại để trong giỏ của chị H rồi chạy bộ vào trong hẻm bên hông Ban chỉ huy quân sự phƣờng An Bình để tẩu thoát. C chạy đƣợc khoảng 100m thì bị ngƣời dân bắt giữ và giao cho công an.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A3S màu đỏ.
Theo Kết luận định giá tài sản số 174/BBĐG -HĐĐGTS ngày 25/11/2022 của Hội đồng định giá thƣờng xuyên trong tố tụng hình sự xác định: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A3S màu đỏ trị giá 1.500.000 đ (một triệu năm trăm nghìn đồng).
Về trách nhiệm dân sự: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A3S màu đỏ C chiếm đoạt của chị H, cơ quan điều tra đã trả lại chị H, chị H không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm, nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.
Theo bản Cáo trạng số 93/CT-VKS- DA ngày 20/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Trần Văn C về tội “Cƣớp giật tài sản” theo Khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong phần tranh luận Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật nhƣ nội dung Cáo trạng, đánh giá về tính chất, mức độ hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 171; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Văn C mức hình phạt từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù;
Tại phiên toà bị cáo Trần Văn C không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, ngƣời tham gia tố tụng không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về nội dung:
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 08/9/2022, tại khu vực đƣờng Xuyên Á thuộc khu phố Bình Đƣờng 3, phƣờng An Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, lợi dụng lúc chị Võ Thị H đang dừng xe đèn đỏ chờ đoàn tàu hoả đi qua, Trần Văn C nhanh chóng giật chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A3S màu đỏ để trong giỏ xe của chị H và chạy vào hẻm gần đó tẩu thoát nhƣng bị quần chúng nhân dân bắt giữ. Theo kết luận định giá chiếc điện thoại trị giá 1.500.000đ.
Hành vi của bị cáo Trần Văn C đủ yếu tố cấu thành tội “Cƣớp giật tài sản” đƣợc quy định tại Khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tính chất, mức độ của hành vi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và thể hiện sự liều lĩnh, gây bức xúc và tâm lý hoang mang cho nhân dân có tài sản đang lƣu thông trên đƣờng, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo nhận thức đƣợc hành vi nhanh chóng giật tài sản của ngƣời bị hại rồi tẩu thoát là vi phạm pháp luật, nhƣng vì tham lam, tƣ lợi bị cáo đã cố ý thực hiện và mong muốn chiếm đoạt bằng đƣợc tài sản. Do đó, cần phải xét xử bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và ngăn ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo C có một tiền án về tội trộm cắp tài sản chƣa đƣợc xoá án tích, nay tiếp tục phạm tội là tình tiết tăng nặng thuộc trƣờng hợp tái phạm quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về trách nhiệm dân sự: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A3S màu đỏ bị cáo chiếm đoạt của chị H, cơ quan điều tra đã trả lại chị H và chị H không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nhƣ trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật. Về hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 171; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Cƣớp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn C 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 08/9/2022.
2. Về án phí: Bị cáo Trần Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Dĩ An; - Chi cục THADS TP.Dĩ An; - Công an TP.Dĩ An; - Bị cáo; - Ngƣời tham gia tố tung khác; - Lƣu: HS, THAHS, AV. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Anh Thư |