- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2023/HS-ST Ngày 06/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Tạ Văn Tƣ
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hứa Đình Hiên
2. Ông Đỗ Trung Xuân
- Thư ký phiên toà: Ông Hà Sỹ Cách - Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Trần Đức Chung - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2023, Tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2023/HSST, ngày 12 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 58/2023/ QĐXXST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Phạm Thị H, sinh ngày 03/9/1993; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: xóm N, xã L, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Công Giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn Đ; con bà Nguyễn Thị T1; Có chồng là Trần Văn L1 và có 01 con; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2022 đến ngày 27/4/2023 thì đƣợc thay thế biện pháp ngăn chặn và áp dụng biện pháp bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
*Bị hại:
1. Bà Dƣơng Thị T sinh năm 1976 (vắng mặt); Trú tại: Tổ A, phƣờng P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do.
2. Bà Dƣơng Thị O sinh năm 1982 (vắng mặt); Trú tại: thôn S, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phƣớc; Nghề nghiệp: Lao động tự do.
3. Bà Nguyễn Thị L sinh năm 1986 (vắng mặt); Trú tại: thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do.
4. Bà Dƣơng Thị D sinh năm 1982 (vắng mặt); Trú tại: Tổ A, phƣờng Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng cuối năm 2020, khi làm việc tại Trung Quốc, Phạm Thị H có quen biết với chị Dƣơng Thị T, sinh năm 1976, trú tại tổ A, phƣờng P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Trong quá trình quen biết, H giới thiệu với chị T tên là “Trang”, còn chị T giới thiệu với H tên là “Huệ”. Sau khi về Việt Nam, Phạm Thị H và chị Dƣơng Thị T vẫn thƣờng xuyên liên lạc với nhau qua ứng dụng Zalo (H để tên tài khoản là “Trang”). Sau đó, đến khoảng tháng 3/2022, trong quá trình nói chuyện qua ứng dụng Zalo, H nói với chị T là H đang làm thủ tục để xin VISA xuất cảnh sang Trung Quốc, lúc này chị T cũng đang có nhu cầu làm VISA xuất cảnh sang Trung Quốc nên chị T có trao đổi và nhờ H làm VISA giúp. Mặc dù bản thân không có khả năng làm VISA xuất cảnh sang Trung Quốc cho chị Dƣơng Thị T nhƣng Phạm Thị H vẫn đồng ý, hứa hẹn làm VISA xuất cảnh sang Trung Quốc cho chị Dƣơng Thị T và yêu cầu chị Dƣơng Thị T chuyển tiền và hộ chiếu cũ cho H để làm VISA xuất cảnh sang Trung Quốc. Sau khi đƣợc H đồng ý làm giúp VISA xuất cảnh sang Trung Quốc, chị Dƣơng Thị T biết chị Dƣơng Thị O; chị Nguyễn Thị L và chị Dƣơng Thị D (em gái của chị T) cũng có nhu cầu làm VISA xuất cảnh sang Trung Quốc nên chị Dƣơng Thị T đã cho chị L và chị O tài khoản Zalo của H để trực tiếp liên hệ nhờ H làm VISA giúp, còn chị T trực tiếp trao đổi với H để nhờ H làm VISA xuất cảnh sang Trung Quốc cho chị Dƣơng Thị D.
Trong khoảng thời gian từ ngày 02/3/2022 đến ngày 22/4/2022, Phạm Thị H đã yêu cầu các chị Dƣơng Thị T, Dƣơng Thị O, Nguyễn Thị L và Dƣơng Thị D chuyển tiền bằng hình thức chuyển khoản và chuyển sổ hộ chiếu cũ qua xe khách cho H với lý do để H giúp làm VISA, mua vé máy bay và nộp tiền bảo lãnh ngƣời lao động tại nƣớc Trung Quốc, đồng thời H hứa hẹn đến ngày 17/5/2022 sẽ làm xong thủ tục cấp VISA để các chị trên xuất cảnh sang Trung Quốc. Để tránh bị Cơ quan Công an phát hiện, Phạm Thị H đã nhờ một số ngƣời cho mƣợn số tài khoản ngân hàng để H nhận tiền từ tài khoản do các chị T, O, L, D chuyển đến, sau đó rút tiền mặt đƣa lại cho H hoặc tiếp tục chuyển tiền sang số tài khoản của H để H chiếm đoạt. Do tin tƣởng H có thể làm đƣợc VISA và các thủ tục để xuất cảnh sang Trung Quốc nên các chị T, O, L, D đã chuyển sổ hộ chiếu cho Phạm Thị H và nhiều lần chuyển tiền vào các tài khoản ngân hàng do Phạm Thị H cung cấp, cụ thể nhƣ sau:
Đối với chị Dƣơng Thị T: Trong các ngày 07/3/2022 và ngày 28/3/2022, chị T đã hai lần chuyển tiền cho Phạm Thị H với tổng số tiền là 34.200.00đ (ba mƣơi tƣ triệu, hai trăm nghìn đồng), cụ thể:
- Lần thứ nhất: Ngày 07/3/2022, chị Dƣơng Thị T chuyển số tiền 15.000.000đ (mười năm triệu đồng) với nội dung “chị hue chuyen tien lam visa” từ số tài khoản 108003092… mang tên Đào Thị Hƣơng X, Ngân hàng TMCP Công Thƣơng (ViettinBank), đến số tài khoản 683223688… mang tên PHẠM THỊ H tại Ngân hàng TMCP Quân đội (MBANK).
- Lần thứ hai: Ngày 28/3/2022, chị Dƣơng Thị T chuyển số tiền 19.200.000đ (mười chín triệu, hai trăm nghìn đồng) từ số tài khoản 108003092… mang tên Đào Thị Hƣơng X, Ngân hàng TMCP Công Thƣơng (Viettin Bank), đến số tài khoản do Phạm Thị H cung cấp là số tài khoản 1014526… mang tên NGUYỄN THANH H1, Ngân hàng TMCP Ngoại Thƣơng (VCB).
Đối với chị Nguyễn Thị L: Trong các ngày 07/3/2022, ngày 26/3/2022 và ngày 30/3/2022, chị L đã ba lần chuyển tiền cho Phạm Thị H với tổng số tiền là 52.200.00đ (năm mƣơi hai triệu, hai trăm nghìn đồng), cụ thể:
- Lần thứ nhất: Vào ngày 07/3/2022, Nguyễn Thị L chuyển số tiền 15.000.000đ (mười năm triệu đồng) với nội dung “NGUYEN THI L chuyen khoan” từ số tài khoản 3408236141… mang tên Nguyễn Thị L, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank), đến số tài khoản do Phạm Thị H cung cấp là số tài khoản 2501205134… mang tên ĐÀO MẠNH Q, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank).
- Lần thứ hai: Ngày 26/3/2022, chị Nguyễn Thị L chuyển số tiền 19.200.000đ (mười chín triệu, hai trăm nghìn đồng) với nội dung “NGUYEN THI L chuyen khoan” từ số tài khoản 3408236141… mang tên Nguyễn Thị L, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) đến số tài khoản do Phạm Thị H cung cấp là số tài khoản 1023204… mang tên ĐỖ VĂN H2, Ngân hàng TMCP Ngoại Thƣơng (VCB).
- Lần thứ ba: Ngày 30/3/2022, chị Nguyễn Thị L chuyển số tiền 18.000.000đ (mười tám triệu đồng) với nội dung “NGUYEN THI L chuyen khoản” từ số tài khoản 3408236141… mang tên Nguyễn Thị L, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) đến số tài khoản do Phạm Thị H cung cấp là số tài khoản 030619926… mang tên NGUYỄN THANH P, Ngân hàng TMCP Quân đội (MBBANK).
Đối với chị Dƣơng Thị O: Trong ngày 30/3/2022, chị O đã hai lần chuyển tiền cho Phạm Thị H với tổng số tiền là 34.396.000đ (ba mƣơi tƣ triệu, ba trăm chín mƣơi sáu nghìn đồng), cụ thể:
Lần 1: Ngày 30/3/2022, chị Dƣơng Thị O đến Ngân hàng Nông Nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam, Chi nhánh tại Bắc Kạn chuyển số tiền 15.000.000đ (mười năm triệu đồng) với nội dung “DUONG THI O CT” đến số tài khoản do Phạm Thị H cung cấp là số tài khoản 185091… mang tên VƢƠNG QUỐC Đ1, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vƣợng (VPBANK).
Lần 2: Ngày 30/3/2022, chị Dƣơng Thị O đến Ngân hàng Nông Nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam, Chi nhánh tại Bắc Kạn chuyển số tiền 19.396.000 (mười chín triệu, ba trăm chín mươi sáu nghìn đồng) với nội dung “DUONG THI O CT” đến số tài khoản do Phạm Thị H cung cấp là số tài khoản 0358828… mang tên ĐÀO QUANG T2, Ngân hàng TMCP Quân đội (MBBANK).
Đối với chị Dƣơng Thị D: Trong ngày 30/3/2022 và ngày 22/4/2022, chị D đã nhờ chị Dƣơng Thị T liên hệ và chuyển tiền cho Phạm Thị H giúp chị D hai lần với tổng số tiền là 34.396.000đ (ba mƣơi tƣ triệu, ba trăm chín mƣơi sáu nghìn đồng), cụ thể:
- Lần thứ nhất: Ngày 30/3/2022, chị Dƣơng Thị T giúp Dƣơng Thị D chuyển số tiền 15.000.000đ (mười năm triệu đồng) từ số tài khoản 108003092… Ngân hàng TMCP Công Thƣơng (ViettinBank) mang tên Đào Thị Hƣơng X đến số tài khoản do Phạm Thị H cung cấp là số tài khoản 7979778… mang tên VÕ TRIỆU H3, tại Ngân hàng TMCP Quân đội (MBBANK).
- Lần thứ hai: Ngày 22/4/2022, chị Dƣơng Thị T giúp chị Dƣơng Thị D chuyển số tiền 19.396.000đ (mười chín triệu, ba trăm chín mươi sáu nghìn đồng) từ số tài khoản 22010005260…, Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và phát triển Việt Nam (BIDV) mang tên DƢƠNG THỊ THÙY B đến số tài khoản do Phạm Thị H cung cấp là số tài khoản 0358828… mang tên Đào Quang T2, tại Ngân hàng TMCP Quân đội (MBBANK).
Nhƣ vậy, tổng số tiền các chị Dƣơng Thị T, Dƣơng Thị O, Nguyễn Thị L và Dƣơng Thị D đã chuyển cho Phạm Thị H là 155.192.000đ (một trăm năm mƣơi năm triệu, một trăm chín mƣơi hai nghìn đồng). Sau khi nhận đƣợc tiền của các chị Dƣơng Thị T, Dƣơng Thị O, Nguyễn Thị L và Dƣơng Thị D chuyển đến, Phạm Thị H đã khóa tài khoản ZALO, cắt liên lạc với những ngƣời nêu trên rồi chiếm đoạt tổng số tiền 155.192.000đ (một trăm năm mƣơi năm triệu, một trăm chín mƣơi hai nghìn đồng) và sử dụng vào mục đích chi tiêu cá nhân.
Sau khi biết bản thân bị lừa đảo chiếm đoạt số tiền nêu trên, các chị Dƣơng Thị T, Dƣơng Thị O, Nguyễn Thị L và Dƣơng Thị D đã làm đơn trình báo gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Kạn đề nghị điều tra làm rõ, xử lý đối với Phạm Thị H theo quy định.
Quá trình điều tra, truy tố Phạm Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố là thống nhất với nhau và phù hợp với lời khai của những ngƣời tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Tại Cáo trạng số 37/CT-VKSTP ngày 12/5/2023 của VKSND thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo Phạm Thị H về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự và tại bản luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cụ thể như sau:
*Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị H phạm tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
- Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 174; Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54 Bộ luật hình sự.
+Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị H từ 13 (mƣời ba) tháng tù đến 15 (mƣời năm) tháng tù (đƣợc trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2022 đến ngày 27/4/2023). Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
*Về trách nhiệm dân sự: Không.
*Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng, mong Hội đồng xét xử xem xét xử với mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bắc Kạn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những ngƣời tham gia tố tụng khác và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nhƣ vậy đủ cơ sở kết luận: Mặc dù không có khả năng làm VISA và các thủ tục xuất cảnh sang Trung Quốc cho ngƣời khác nhƣng trong khoảng thời gian từ ngày 02/03/2022 đến ngày 22/4/2022, Phạm Thị H đã có hành vi đƣa ra thông tin gian dối là bản thân có khả năng làm đƣợc VISA và các thủ tục xuất cảnh sang Trung Quốc để các chị Dƣơng Thị T, Nguyễn Thị L, Dƣơng Thị O, Dƣơng Thị D tin tƣởng và nhiều lần chuyển tiền cho Phạm Thị H với tổng số tiền 155.192.000đ (một trăm năm mƣơi năm triệu, một trăm chín mƣơi hai nghìn đồng). Sau khi nhận đƣợc số tiền nêu trên, Phạm Thị H đã chiếm đoạt và chi tiêu cá nhân hết. Trong đó, Phạm Thị H đã chiếm đoạt của chị Dƣơng Thị T tổng số tiền 34.200.00đ (ba mƣơi tƣ triệu, hai trăm nghìn đồng), chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị L tổng số tiền 52.200.00đ (năm mƣơi hai triệu, hai trăm nghìn đồng), chiếm đoạt của chị Dƣơng Thị O tổng số tiền 34.396.000đ (ba mƣơi tƣ triệu, ba trăm chín mƣơi sáu nghìn đồng), chiếm đoạt của chị Dƣơng Thị D tổng số tiền 34.396.000đ (ba mƣơi tƣ triệu, ba trăm chín mƣơi sáu nghìn đồng).
Hành vi nêu trên của Phạm Thị H đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự. Điều luật có nội dung:
1. Người nào bằng thủ đoạn giam dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng…, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
…
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
…
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
Cáo trạng số 37/CT-VKSTP, ngày 12/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.
Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo gây ra đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của ngƣời khác, gây ảnh hƣởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phƣơng. Vì vậy, phải đƣợc xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân của bị cáo: Bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ là: Ngƣời phạm tội bồi thƣờng thiệt hại; Ngƣời phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Bị cáo có bà ngoại là dân công hỏa tuyến tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đƣợc hƣởng chế độ trợ cấp; Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là “Phạm tội 02 lần trở lên”. Xét bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu nên khi xem xét lƣợng hình cần áp dụng điều 54 của Bộ luật hình sự, xử bị cáo mức hình phạt dƣới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định cũng đảm bảo sự công bằng và khoan hồng của pháp luật.
Trong vụ án này có Đào Quang T2, sinh năm 1989, trú tại số A, tổ N, phƣờng T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Đào Mạnh Q, sinh năm 1970, trú tại số nhà A, đƣờng T, phƣờng T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Vƣơng Quốc Đ1, sinh năm 1990, trú tại ấp L, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh; Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1987, trú tại ÔA, khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh; Đỗ Văn H2, sinh năm 1983, trú tại thôn B, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình; Nguyễn Thanh P, sinh năm 1992, trú tại 102/9/.. B, phƣờng A, quận A, thành phố Hồ Chí Minh; Võ Triệu H3, sinh năm 1991, trú tại tổ A, ấp S, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh là những ngƣời cho Phạm Thị H mƣợn tài khoản ngân hàng để nhận tiền từ các bị hại sau đó rút tiền mặt đƣa lại cho H hoặc tiếp tục chuyển tiền sang tài khoản của H. Tuy nhiên, những ngƣời này không biết việc H mƣợn tài khoản ngân hàng để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã tự thỏa thuận bồi thƣờng xong, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: 01 (một) quyển sổ hộ chiếu (PASSPORT) số K0191… mang tên Phạm Thị H; 01 (một) thẻ ngân hàng TPBANK mang tên Phạm Thị H; 01 (một) Thẻ bên trên có in ảnh của Phạm Thị H và có ghi dòng chữ G150VIP; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu ỊPHONE 14 PROMAX, số seri: F29L3C9…, Số IMELI: 359265386266…, Số IMEIL 2: 359265386969… và 01 (một) sim điện thoại Vietel bên trên có ghi các chữ số 8984048000901300…, số thuê bao 0372838…. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho Phạm Thị H là có căn cứ.
Đối với số tiền 155.192.000đ (một trăm năm mƣơi năm triệu, một trăm chín mƣơi hai nghìn đồng) chiếm đoạt của các chị Dƣơng Thị T, Nguyễn Thị L, Dƣơng Thị O và Dƣơng Thị D, bị cáo Phạm Thị H đã chi tiêu cá nhân hết; Đối với chiếc điện thoại di động mà bị cáo Phạm Thị H đã sử dụng để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì bị cáo đã bán cho ngƣời khác (không rõ họ tên, địa chỉ); Đối với sổ hộ chiếu của các chị Dƣơng Thị T, Nguyễn Thị L, Dƣơng Thị O và Dƣơng Thị D thì Phạm Thị H đã làm mất. Do đó, Cơ quan điều tra không thu giữ đƣợc.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QuyÕt ®Þnh:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị H phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
*Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 174; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54 Bộ luật hình sự.
-Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị H 14 (mƣời bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại thụ hình (đƣợc trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2022 đến ngày 27/4/2023).
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Thị H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nƣớc.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn (01b); - VKSND tỉnh Bắc Kạn (01b); - VKSND thành phố Bắc Kạn (01b); - Công an thành phố Bắc Kạn (02b); - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn (Khi án có hiệu lực - 01b); - Sở Tƣ pháp; - Ngƣời tham gia tố tụng (01b); - Lƣu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Văn Tư |